tháng 9 2020

Từ ngày 20/10/2020, Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT và Thông tư 28/2020/TT-BGDĐT quy định về đánh giá học sinh tiểu học và Điều lệ Trường tiểu học chính thức có hiệu lực. Theo đó, tại 02 văn bản này quy định những vấn đề quan trọng mà giáo viên tiểu học được làm hoặc không được làm.


1. Giáo viên chủ nhiệm chỉ được giới thiệu chứ không được chỉ định lớp trưởng, lớp phó

Theo khoản 2 Điều 16 Thông tư 28/2020/TT-BGDĐT, tổ chức lớp học được quy định như sau:

- Lớp học có lớp trưởng và các lớp phó.

- Học sinh trong lớp được chia thành các tổ, mỗi tổ có tổ trưởng, tổ phó.

- Lớp trưởng, lớp phó, tổ trưởng, tổ phó do học sinh ứng cử hoặc giáo viên chủ nhiệm giới thiệu, được học sinh trong lớp, trong tổ bầu chọn và luân phiên trong năm học.

- Hình thức tổ chức lớp học được thực hiện linh hoạt phù hợp với từng đối tượng và điều kiện thực tế.

Hiện hành: Tại Điều 17 Thông tư 41/2010/TT-BGDĐT quy định:
Học sinh đ­ược tổ chức theo lớp học. Lớp học có lớp trưởng, một hoặc hai lớp phó do tập thể học sinh bầu hoặc do giáo viên chủ nhiệm lớp chỉ định luân phiên trong năm học. Mỗi lớp học có không quá 35 học sinh.

2. Giáo viên thực hiện đánh giá học sinh chủ yếu thông qua lời nói

Theo đó, tại điểm a khoản 1 Điều 6 quy định Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT quy định:


- Giáo viên sử dụng linh hoạt, phù hợp các phương pháp đánh giá, nhưng chủ yếu thông qua lời nói chỉ ra cho học sinh biết được chỗ đúng, chưa đúng và cách sửa chữa;

- Giáo viên viết nhận xét vào vở hoặc sản phẩm học tập của học sinh khi cần thiết, có biện pháp cụ thể giúp đỡ kịp thời.

Hiện hành:
Theo quy định tại Điều 6 Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT được sửa đổi bởi Khoản 3 Điều 1 Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT: Giáo viên dùng lời nói chỉ ra cho học sinh biết được chỗ đúng, chưa đúng và cách sửa chữa; viết nhận xét vào vở hoặc sản phẩm học tập của học sinh khi cần thiết, có biện pháp cụ thể giúp đỡ kịp thời.

3. Giáo viên được chấm 0 điểm bài kiểm tra

Tại điểm d khoản 1 Điều 7 Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT quy định về đánh giá bài kiểm tra như sau:

- Bài kiểm tra được giáo viên sửa lỗi, nhận xét, cho điểm theo thang điểm 10, không cho điểm thập phân và được trả lại cho học sinh.

- Điểm của bài kiểm tra định kỳ không dùng để so sánh học sinh này với học sinh khác.

- Nếu kết quả bài kiểm tra cuối học kỳ I và cuối năm học bất thường so với đánh giá thường xuyên, giáo viên đề xuất với nhà trường có thể cho học sinh làm bài kiểm tra khác để đánh giá đúng kết quả học tập của học sinh.

Hiện hành:
Tại Khoản 4 Điều 1 Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT quy định bài kiểm tra được giáo viên sửa lỗi, nhận xét, cho điểm theo thang 10 điểm, không cho điểm 0, không cho điểm thập phân và được trả lại cho học sinh.
  
4. Giáo viên được sử dụng điện thoại

Tại khoản 1 Điều 31 Thông tư 28/2020/TT-BGDĐT quy định giáo viên cần chú ý hành vi ứng xử, trang phục như sau:

Không xuyên tạc nội dung giáo dục, dạy sai nội dung kiến thức;

Không gian lận trong kiểm tra đánh giá, cố ý đánh giá sai kết quả giáo dục của học sinh;

Không ép buộc học sinh học thêm vì mục đích vật chất;

Không bỏ giờ, bỏ buổi dạy, tuỳ tiện cắt xén nội dung giáo dục;

Không xúc phạm nhân phẩm, danh dự, xâm phạm thân thể người khác; không hút thuốc; uống rượu, bia; gây rối an ninh, trật tự.

Như vậy, tại Thông tư 28/2020/TT-BGDĐT không còn quy định không cho phép giáo viên sử dụng điện thoại.

Hiện hành:
Tại khoản 5 Điều 38 Thông tư 41/2010/TT-BGDĐT quy định trong các hành vi giáo viên không được làm có:
Uống rượu, bia, hút thuốc lá khi tham gia các hoạt động giáo dục ở nhà trường, sử dụng điện thoại di động khi đang giảng dạy trên lớp.

5. Giáo viên không được phê bình học sinh trước cả lớp, trước toàn trường hoặc trong cuộc họp chung với cha mẹ học sinh

Cụ thể, tại khoản 3 Điều 38 Thông tư 28/2020/TT-BGDĐT quy định về khen thưởng và kỷ luật học sinh, trong đó quy định học sinh có khuyết điểm trong quá trình học tập, rèn luyện và các phong trào thi đua, tuỳ theo mức độ vi phạm có thể thực hiện các biện pháp kỉ luật sau:

Nhắc nhở, hỗ trợ giúp đỡ trực tiếp để học sinh tiến bộ hơn;

Thông báo với cha mẹ học sinh nhằm phối hợp giúp đỡ học sinh khắc phục khuyết điểm.

Lưu ý: Giáo viên không được phê bình học sinh trước cả lớp, trước toàn trường hoặc trong cuộc họp chung với cha mẹ học sinh.

Hiện hành:
Theo khoản 2 Điều 44 Thông tư 41/2010/TT-BGDĐT quy định, học sinh vi phạm khuyết điểm trong quá trình học tập và rèn luyện thì tuỳ theo mức độ vi phạm có thể thực hiện các biện pháp sau:
  • Nhắc nhở, phê bình;
  • Thông báo với gia đình.

Như vậy, tại Thông tư 28/2020/TT-BGD đã bỏ đi quy định cho phép giáo viên được phê bình học sinh trước tập thể. Bởi, ở độ tuổi này việc áp dụng hình thức xử phạt này làm ảnh hưởng tiêu cực đến tinh thần học tập, gây tâm lý "sợ sệt" cho học sinh.

Thùy Trâm (thukyluat.vn)

Sáng ngày 27 tháng 9 năm 2020, tại Trường THCS Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn, Tỉnh đoàn Lạng Sơn cùng phối kết hợp với các cơ quan, ban ngành và các Chi đoàn trường đã tổ chức Hội thi Tin học trẻ cấp Tỉnh năm 2020.


Cuộc thi nằm trong chuỗi các hoạt động chào mừng Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII cũng như để khuyến khích, phát hiện các tài năng về tin học, công nghệ thông tin trong học sinh, đoàn viên thanh niên trong tỉnh.

Cũng như mọi năm, hội thi năm nay đón nhận sự tham gia của rất đông các thí sinh đến từ các khối Tiểu học (Bảng A); Trung học cơ sở (Bảng B); Trung học phổ thông (Bảng C) và khối Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động (Bảng D). Nội dung thi xoay quanh các kỹ năng sử dụng các phần mềm thuộc bộ Office: Ms Word, Ms Excel; Ms Power Point và IC3 Spark cùng thi phần mềm sáng tạo dành cho thí sinh Bảng D.

Tuy đây không phải lần đầu tổ chức, nhưng việc triển khai văn bản tới các đơn vị của Ban tổ chức tương đối sát với thời gian dự thi nên các đơn gặp khó khăn trong công tác chỉ đạo, ôn luyện và lựa chọn thí sinh tham gia. Trong quá trình diễn ra cuộc thi, đặc biệt là ở Bảng A, thí sinh thi trên phần mềm, chấm điểm tự động và trực tiếp, do phải phụ thuộc vào những yêu cầu của máy móc và đường truyền mạng Internet không tốt nên hầu hết các thí sinh đều gặp trục trặc phải chuyển máy cũng như trong việc tải câu hỏi và làm bài. Điều này ảnh hưởng lớn đến kết quả của thí sinh cũng như kết quả chung cuộc của bảng thi. Nhìn chung, kết quả của Bảng A năm nay thấp hơn so với năm trước.


Buổi chiều cùng ngày, Ban tổ chức đã tiến hành trao giải cho các thí sinh xuất sắc của các bảng thi và nội dung thi.



Ths Nguyễn Sóng Hiền cho rằng quy định mới của Bộ GD-ĐT cho phép học sinh sử dụng smartphone trong lớp là phù hợp với sự phát triển của giáo dục hiện đại. Tiến tới học sinh đi học chỉ cần laptop, smartphone và có thể thay thế SGK để bảo vệ môi trường.

Quy định cho phép học sinh sử dụng điện thoại di động trong giờ học thuộc Điều lệ các trường THCS, THPT của Bộ GD-ĐT đang gây nhiều tranh cãi trái chiều. 

Đưa ra quan điểm về vấn đề này, Nhà nghiên cứu giáo dục Nguyễn Sóng Hiền – thành viên liên đoàn các nhà nghiên cứu giáo dục độc lập Australia cho rằng, việc Bộ GD-ĐT ban hành thông tư số 32/2020 về điều lệ trường THCS, THPT, trong đó quy định những việc học sinh không được phép làm cụ thể như: “Sử dụng điện thoại di động, các thiết bị khác khi đang học tập trên lớp không phục vụ cho việc học tập và không được giáo viên cho phép”. Điều này đồng nghĩa với cho phép học sinh được sử dụng các thiết bị công nghệ trong quá trình học tập với sự đồng ý của giáo viên.

Quy định cho phép học sinh sử dụng điện thoại trong lớp đang nhận được nhiều ý kiến trái chiều. (Ảnh: Thanh niên).

Ths Nguyễn Sóng Hiền đánh giá, đây là những quy định thể hiện sự cầu thị của Bộ GD-ĐT, tiếp thu, điều chỉnh trong chính sách nhằm bắt kịp những thay đổi do yêu cầu thực tế phát triển của đất nước cũng như tiếp cận gần hơn với các nền giáo dục tiến bộ khác.

Quy định cho phép học sinh dùng smartphone cũng từng gây tranh cãi tại các nước phát triển...

Với kinh nghiệm nghiên cứu và làm việc tại các quốc gia khác trên thế giới, Ths Nguyễn Sóng Hiền cho biết, nhiều nước đã từng cho phép học sinh sử dụng điện thoại thông minh (smartphone) trong lớp để phục vụ quá trình dạy và học và cũng đã vấp phải những phản ứng trái nhiều từ phụ huynh cũng như những nhà giáo dục.

Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng, việc đưa công nghệ như laptop, máy tính bảng hay smartphone vào phục vụ cho quá trình dạy và học mang lại nhiều tác động tích cực hơn là tiêu cực.

Ths Nguyễn Sóng Hiền, thành viên Liên đoàn các nhà nghiên cứu giáo dục độc lập Australia.

Chuyên gia giáo dục này cho rằng, một thực tế không thể phủ nhận là sự xuất hiện của điện thoại thông minh đã tác động làm thay đổi mạnh mẽ thế giới hiện đại, làm chuyển dịch không gian sống của con người từ thực tại sang một không gian ảo và đã thu hẹp thế giới chỉ trong một màn hình chỉ bằng bàn tay. Những tác động to lớn mà điện thoại smartphone mang lại không chỉ đối với xã hội nói chung mà ngay đối với hoạt động giáo dục khi tạo ra một môi trường giáo dục hoàn toàn mới, trường học online, hay lớp học online.

... nhưng học sinh lại hứng thú với học tập hơn nhiều khi có smartphone

Dẫn lại nghiên cứu của tiến sĩ Tami (2014) về Ứng dụng sư phạm trong việc kết hợp smartphone trong quá trình dạy học đã điều tra về quan điểm của giáo viên, giảng viên, sinh viên và học sinh trong sử dụng smartphone khi dạy học tại trường trung học và cao đẳng.

Theo đó, nghiên cứu này chỉ ra rằng có tới hơn 70% học sinh trung học sử dụng điện thoại trong lớp học để phục vụ cho việc học của chúng và chúng cho rằng việc sử dụng điện thoại trong quá trình học khiến giờ học thú vị hơn và có động lực để học hơn. Trong khi đó, những sinh viên cao đẳng và giáo viên với độ tuổi trung bình 52 thì thấy khó khăn trong việc ứng dụng smartphone trong quá trình dạy học. Tuy nhiên, các sinh viên cao đẳng và học sinh trung học đều cho rằng việc sử dụng smartphone giúp học tốt hơn và hộ trợ nhiều hơn trong quá trình học.

Từ nghiên cứu trên, Ths Nguyễn Sóng Hiền cho rằng, đang có sự khác biệt về quan điểm trong vấn đề sử dụng smartphone giữa 3 thế hệ X-Y-Z. Những thế hệ X (sinh từ 1965 đến 1980) được xem là thế hệ bắt đầu tiếp cận với công nghệ. Thế hệ Y (sinh từ 1981 đến 1995) thuộc về thế hệ công nghệ số. Thế hệ Z (sinh từ 1996-2010) được gọi là thế hệ của thời đại công nghệ 4.0.

“Đặc trưng của thế hệ này là yêu thích smartphone và xem đó là một phần không thể thiếu trong đời sống. Thế hệ này nhiều trẻ trước 10 tuổi đã có thể sử dụng thành thạo một chiếc smartphone và đã biết ứng dụng nó vào việc học. Từ những nghiên cứu và đánh giá trên có thể thấy việc cho phép học sinh sử dụng smartphone trong quá trình học của chúng đối với học sinh từ bậc THCS và THPT (có thể được xem là thế hệ Z) là hoàn toàn phù hợp với xu thế của thời đại và là một điều tất yếu của sự phát triển của nền giáo dục hiện đại. 

Điều chúng ta cần trao đổi và thảo luận ở đây là cách thức và biện pháp để thực thi việc ứng dụng công nghệ số và smartphone trong quá trình dạy và học như thế nào cho hiệu quả”, Ths Hiền nói.

Chuyên gia giáo dục này cho rằng, không nên đơn thuần sử dụng smartphone như một nguồn giúp học sinh khai thác kiến thức mà cần biến nó thành một ứng dụng hỗ trợ trong quá trình dạy và học. Khi nền giáo dục thế giới đã và đang chuyển dịch dần từ giáo dục truyền thống dựa trên sách giáo khoa sang giáo dục hiện đại dựa trên công nghệ, điều này đòi hỏi cách tiếp cận mới trong phương pháp dạy và học từ vai trò thầy cô là trung tâm sang học sinh là trung tâm của mọi hoạt động dạy học. Bên cạnh đó cũng cần lấy cộng nghệ làm nền tảng cho cách tiếp cận mới này. 

Do đó, Ths Nguyễn Sóng Hiền cho rằng, việc sử dụng các công nghệ số, smartphone, laptop và cả máy tính bảng vào quá trình giáo dục là xu thế tất yếu của một nền giáo dục hiện đại. Tại Australia – nơi ông đang công tác, học sinh Trung học đã được sử dụng laptop cách đây đã cả thập kỷ để thay thế cho sách giáo khoa, tất cả các hoạt động dạy và học đều được cộng nghệ hoá.

Chúng ta cần làm thế nào tiến tới học sinh đến trường chỉ cần laptop, một máy tính bảng, hay smartphone có thể giúp chúng tự học trên đó và có thể thay thế sách giáo khoa, vừa đỡ tốn chi phí hàng năm, vừa có thể bảo vệ rừng. Hàng năm chúng ta phải tiêu tốn hàng triệu bản sách giáo khoa cho các cấp học đồng nghĩa hàng triệu hecta rừng phải bị đốn để làm nguyên liệu sản xuất giấy để in vỡ, in sách giáo khoa,” Ths Nguyễn Sóng Hiền đề xuất.

Mỗi lớp vẫn cần quy định riêng khi sử dụng điện thoại

Khẳng định ứng dụng công nghệ là xu hướng tất yếu trong giai đoạn 4.0, tuy nhiên, Ths Nguyễn Sóng Hiền cũng thừa nhận, sẽ khó tránh khỏi sẽ có những học sinh sử dụng điện thoại trong thời gian không được phép. Những lo sợ về việc học sinh sử dụng điện thoại trong lớp như chơi game, chụp hình thầy cô khi đang giảng chỉ, dẫn đến sao nhãng việc học là những mặt trái có thể xảy ra khi thiếu sự giám sát chặt chẽ của giáo viên và thiếu các quy tắc về văn hóa sử dụng không gian mạng.

Để hạn chế tình trạng này, Ths Nguyễn Sóng Hiền cho rằng, cần có quy tắc cụ thể về ứng xử trên không gian mạng. Những nội dung này cần được đưa vào tuyên truyền, phổ biến tới các đối tượng học sinh THCS – THPT để các em sớm nhận biết được những mặt trái của sử dụng không gian mạng khi không đúng mục đích.

“Bộ GD-ĐT đã thực hiện đúng vai trò ban hành chủ trương chung. Còn việc thực hiện cụ thể, cần căn cứ vào tình hình thực tế của mỗi địa phương, nhà trường, lớp học để ban hành những chính sách riêng, phù hợp với từng lứa tuổi, trình độ nhận thức của học sinh, điều kiện văn hóa, xã hội từng địa phương. Thậm chí, mỗi lớp học thầy cô cũng cần có những quy định, quy ước chung, rất cụ thể trong việc sử dụng điện thoại, laptop, máy tính bảng ra sao để hạn chế tối đa việc sử dụng không đúng mục đích”.

Nguyễn Trang (VOV)

Trong những năm qua, nhất là năm học 2019 – 2020, ngành giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) tỉnh luôn coi phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) là một trong những phương tiện cần thiết để thực hiện nhiệm vụ chuyên môn.

CNTT đổi mới cách dạy, cách học, phương thức quản lý

Trên cơ sở các chương trình hợp tác giữa ngành với các doanh nghiệp viễn thông trong kiện toàn, nâng cấp và sử dụng CNTT tại các cơ sở GD&ĐT, trong giai đoạn 2010 – 2020, ngành GD&ĐT đã chủ động triển khai đến đâu, đưa vào sử dụng có hiệu quả đến đó. Năm học 2019 -2020, thực hiện nâng cấp cơ sở hạ tầng CNTT, nhất là các phòng họp trực tuyến, ngành GD&ĐT đã tổ chức khảo sát lắp đặt phòng họp trực tuyến tại 3 trường phổ thông dân tộc nội trú liên cấp tại các huyện: Lộc Bình, Tràng Định và Bình Gia; hoàn thành việc triển khai nâng cấp phòng họp trực tuyến tại Sở GD&ĐT, nâng số phòng họp được khai thác có hiệu quả trong toàn ngành lên 37 điểm cầu. Việc đầu tư máy và phòng vi tính cho cơ sở được đẩy mạnh. Tính đến hết tháng 8/2020, toàn ngành đã có 3.584 máy vi tính phục vụ công tác hành chính, 403 phòng máy với 6.696 máy tính, 2.554 máy chiếu, 1.434 ti vi màn hình lớn và 224 bảng thông minh phục vụ công tác dạy và học. Bên cạnh đó, ngành, công đoàn ngành đã động viên cán bộ, nhân viên, giáo viên tự mua sắm máy vi tính, và coi đó là phương tiện thiết yếu dần thay thế giáo án và việc ghi chép truyền thống. Đến nay, trong số 1.809 cán bộ quản lý và 14.674 giáo viên các cấp, đã có 100% cán bộ quản lý, trên 85% giáo viên có máy vi tính cá nhân. Với việc phổ cập trình độ tin học lên gần 90%, ngành khuyến khích giáo viên soạn bài trên máy vi tính, bài giảng trình chiếu, ứng dụng phần mềm thí nghiệm ảo và các phần mềm hỗ trợ xây dựng bài giảng điện tử phù hợp nội dung và phương pháp bộ môn.

Học sinh Trường THCS Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn ứng dụng công nghệ thông tin trong giờ học ngoại ngữ.

Cô Phan Thị Mỹ Hạnh, Hiệu trưởng Trường THPT Chuyên Chu Văn An cho biết: Tất cả 96 cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường có máy vi tính. Việc ứng dụng CNTT trong nhà trường đã đi vào nền nếp và đã phát huy hiệu quả to lớn trong việc nâng cao hiệu quả dạy và học. Ứng dụng CNTT ở Trường THPT Chuyên Chu Văn An đã góp phần thay đổi cách dạy của thầy theo hướng đổi mới giáo dục phổ thông. Cụ thể là thầy ứng dụng CNTT trong soạn giáo án, trình chiếu, tổ chức các hoạt động nhận thức cho học sinh, hướng dẫn học sinh tìm ra chân lý, chứ không thuộc lòng chân lý có sẵn. Sự tham gia của CNTT cũng điều chỉnh cách học của trò, để việc học trở thành một quá trình kiến tạo, trong đó học sinh tìm tòi khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lý thông tin để hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất. Đó là những yếu tố rất cần thiết của học sinh trường chuyên, nhất là trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.

Hiệu quả tích cực

Hạ tầng CNTT ngày càng có chất lượng, đội ngũ cán bộ quản lý được tập huấn, tiếp cận với kiến thức quản lý mới để nâng cao trình độ hằng năm, các trường học đã sử dụng các phần mềm vào quản lý nhà trường như: phần mềm SMAS có 226 trường sử dụng; phần mềm vnEDU có 184 đơn vị sử dụng. Việc điện tử hóa sổ sách đã thay thế dần sổ sách truyền thống như sổ học bạ, sổ điểm; tăng cường CNTT trong việc kết nối giữa nhà trường với phụ huynh. Từ nển tảng CNTT hiệu quả, ngành đang triển khai công tác quản lý hành chính điện tử; triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4. Hiện nay, ngành đang hướng dẫn các đơn vị triển khai rà soát, cập nhật cơ sở dữ liệu ngành đảm bảo chính xác, đúng tiến độ theo quy định của Bộ GD&ĐT. Hiện nay, cơ sở dữ liệu đã được cập nhật thành công và đưa vào khai thác, sử dụng thường xuyên trong công tác quản lý giáo dục từ cơ sở đến Sở GD&ĐT.

Tiết dạy môn Giáo dục Công dân trên Truyền hình Lạng Sơn của cô giáo Vi Thị Mai Thanh, Trường THPT chuyên Chu Văn An.

Nhờ phát huy tốt cơ sở hạ tầng và có được nguồn nhân lực sử dụng CNTT mà trong thời gian phòng, chống dịch Covid-19 vừa qua, ngành GD&ĐT không bị gián đoạn kế hoạch và “đứt gãy” kế hoạch về tập huấn đội ngũ giáo viên phục vụ đổi mới giáo dục phổ thông, cũng như gây khó cho việc học tập của học sinh các cấp. Thông qua hình thức trực tuyến, năm học 2019 – 2020, Sở GD&ĐT đã tổ chức 11 cuộc họp, tập huấn giữa sở với phòng GD&ĐT và các trường THPT.

Đến cuối năm học 2019 – 2020, toàn ngành đã thực hiện 5.376 chủ đề sinh hoạt chuyên môn của giáo viên, nhất là các lớp tập huấn về đổi mới phương pháp dạy học, thay sách giáo khoa lớp 1 đối với cán bộ giáo viên cấp tiểu học. Trong suốt thời kỳ phải đóng cửa nhà trường do dịch Covid-19, đội ngũ giáo viên vẫn được cập nhật kiến thức mới, được trao đổi, thảo luận và có nhiều đề xuất hữu ích phục vụ cho công tác thay sách giáo khoa năm học 2020 – 2021. Với tinh thần “giãn cách xã hội nhưng vẫn nối mạch kiến thức”, CNTT đã giúp ngành giải quyết vấn đề cho học sinh tiếp tục học tập, nhất là công tác ôn thi tốt nghiệp THPT theo hình thức mới. Trong thời gian này, Sở GD&ĐT đã xây dựng được 85 video bài giảng phát trên truyền hình, trong đó có 12 bài giảng/môn cấp THCS, 8 bài giảng/môn cấp THPT; phối hợp với Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh tổ chức phát sóng được 4 bài giảng/môn đối với mỗi cấp học. Qua thống kê, số lượng truy cập vào xem các bài giảng trên Website của Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh Lạng Sơn đã đạt gần 66 ngàn lượt đối với cấp THCS và gần 22 ngàn lượt đối với cấp THPT… Những nơi có điều kiện như khu vực thành phố, thị trấn, học sinh tiểu học cũng được học tập theo hình thức trực tuyến sinh động và lý thú. Ông Hoàng Quốc Tuấn, Quyền Giám đốc Sở GD&ĐT cho biết: CNTT thực sự là chìa khóa, là công cụ để thực hiện đổi mới GD&ĐT, nhất là đổi mới cách dạy, cách học. Do đó ngành vừa coi trọng đầu tư cơ sở hạ tầng CNTT, vừa quan tâm bồi dưỡng nhân lực. Nhờ ứng dụng có hiệu quả CNTT, ngành không chỉ nâng cao chất lượng dạy và học mà còn đổi mới phương thức quản lý một cách đồng bộ và hiệu quả.

Minh Hồng (Báo Lạng Sơn)

MKRdezign

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget