tháng 10 2020

Có thể hiểu đơn giản Học vấn số hóa phổ dụng (DL) là các kỹ năng, học vấn cơ bản tối thiểu mà mỗi học sinh cần có , giúp học sinh có thể sử dụng máy tính và các thiết bị máy tính tương ứng một cách an toàn, hiệu quả, giúp học sinh có khả năng hoà nhập với xã hội hiện đại, sử dụng các thiết bị một cách có đạo đức, văn hoá và tôn trọng pháp luật.

Nếu so sánh với môn học tiếng Việt (hay ngoại ngữ) chẳng hạn thì DL sẽ tương ứng với các kỹ năng đọc, viết tối thiểu ban đầu. Còn nếu so sánh với môn Toán thì DL sẽ là các kỹ năng đọc, đếm số cơ bản.

Quận 3: Học sinh thi Tin học trẻ Thành Đoàn TP.Hồ Chí Minh.

Vậy có thể liệt kê các kỹ năng tối thiểu cần có của mỗi học sinh đối với môn Tin học sẽ là:

- Kỹ năng thực hành chuột, gõ bàn phím.

- Kỹ năng sử dụng máy tính đơn giản.

- Kỹ năng soạn thảo văn bản.

- Kỹ năng trình chiếu.

- Kỹ năng dùng bảng tính để thiết lập dữ liệu đơn giản.

- Kỹ năng tra cứu Internet, nhận và gửi thư điện tử.

- Kỹ năng sử dụng các dịch vụ mạng xã hội đơn giản.

- Hiểu biết cơ bản về pháp luật, bản quyền thông tin.

- Hiểu và biết cách phòng tránh các thông tin có hại trên Internet và mạng xã hội.

- Hiểu biết cơ bản về các vấn đề đa văn hóa và bản sắc văn hóa trên mạng xã hội.

Nhóm Học vấn, kỹ năng số hóa phổ thông (DL) không phải là kiến thức lõi mà chỉ đơn giản là tập hợp các kỹ năng tối thiểu mà mỗi học sinh cần biết.

Các bạn lưu ý rằng những "kỹ năng" tối thiểu nêu ở trên có rất nhiều trong chương trình môn Tin học hiện thời như là những "kiến thức" tin học cơ bản. Điều này trong tương lai phải dần loại bỏ.

Một lưu ý rất quan trọng nữa liên quan đến mạch tri thức DL là khái niệm và nội dung của DL sẽ còn thay đổi nhiều trong tương lai.

Như vậy Kỹ năng số hóa phổ thông (DL) là những kỹ năng, kiến thức phổ thông tối thiểu mà mỗi công dân cần biết trong thời đại ngày nay. Vùng kiến thức này đã sẽ còn thay đổi rất nhiều trong tương lai. Phổ biến Kỹ năng số hóa phổ thông không chỉ là việc của nhà trường hay cụ thể hơn là của bộ môn Tin học, đây là nhiệm vụ của toàn xã hội.

Bùi Việt Hà

Để có sự định hướng tổ chức dạy học một chủ đề, một bài học STEM, chúng ta có thể dựa trên những đặc trưng sau của bài học STEM:

Đặc trưng thứ nhất, bài học STEM gắn với tình huống và vấn đề thực tiễn: Các tình huống hoặc các vấn đề thực tiễn được nêu ra có liên quan đến các vấn đề xã hội, kinh tế, môi trường cần được có những giải pháp và nỗ lực thực hiện. Những vấn đề thực tiễn có thể gắn với cá nhân học sinh, với thực tiễn địa phương hoặc là vấn đề toàn cầu.

Đặc trưng thứ hai, bài học STEM thường được phỏng theo quy trình thiết kế kỹ thuật: Học sinh được yêu cầu thiết kế, chế tạo, vận hành thử nghiệm và tối ưu hoá một sản phẩm phục vụ cho yêu cầu của đời sống. Để thực hiện được các nhiệm vụ đó, học sinh có thể được hướng dẫn thông qua văn bản, video,… hoặc dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên. Với sự định hướng, hỗ trợ của giáo viên, học sinh sẽ đặt ra các vấn đề bản thân gặp phải, có thể là tìm hiểu nguyên lý hoạt động của sản phẩm, các bước chế tạo… và tìm cách giải quyết. Trong quá trình tìm cách giải quyết sẽ có những ý tưởng nảy sinh, giải pháp mới. Quá trình thiết kế – thử nghiệm – điều chỉnh” được vận hành liên tục.

Đặc trưng thứ ba, bài học STEM dẫn học sinh vào chuỗi hoạt động tìm tòi, khám phá có kết thúc mở. Trong các bài học STEM, con đường học tập có kết thúc mở, trong một quy trình không quá ràng buộc. Điều ràng buộc, nếu có, chỉ là những vật liệu được cung cấp sẵn, hoặc cách giới hạn điều kiện vận dụng của sản phẩm. Việc giới hạn nguồn lực tạo ra sản phẩm không làm hạn chế tính sáng tạo của học sinh mà làm tăng khả năng thích ứng, tăng khả năng giải quyết vấn đề trong hoàn cảnh cụ thể của học sinh.

Đặc trưng thứ tư, bài học STEM hướng tới việc định hướng nghề nghiệp: Hoạt động STEM cơ hội cho học sinh giải quyết các nhiệm vụ của các nghề nghiệp STEM. Việc tổ .. học sinh làm việc nhóm hiệu quả, chẳng hạn như thực hiện một quy trình sản xuất là việc không dễ dàng, nhưng đem lại cơ hội cho việc giáo dục định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Qua hoạt động STEM, học sinh hiểu yêu cầu cần có của nghề nghiệp. STEM, đối chiếu với khả năng, sở trường của bản thân từ đó có thể hình thành thái độ đối với nghề nghiệp trong tương lai.

Đặc trưng thứ năm, bài học STEM có các nội dung toán học và khoa học được liên kết chặt chẽ: Trong các bài học STEM, các nội dung toán học và khoa học nên được kết nối và tích hợp. Kiến thức, kĩ năng toán học và khoa học là những kiến thức nền để học sinh có thể động vào giải quyết các vấn đề thông qua các công cụ kĩ thuật và đúc rút thành các quy trình công nghệ.

Đặc trưng thứ sáu, bài học STEM không có câu trả lời đúng duy nhất, kể cả việc “thiết kế – thử nghiệm – điều chỉnh” cũng là một phần cần thiết của bài học. Các thí nghiệm khoa học cho các nhóm sẽ được diễn ra cùng lúc, có thể giống nhau nhưng chưa chắc đã ra kết quả giống nhau. Qua đó, học sinh có thể chấp nhận các kết quả tương tự hoặc bác bỏ một giả thuyết nào đó. Lớp học STEM hỗ trợ các học sinh đưa ra nhiều câu trả lời đúng và nhiều cách tiếp cận. Khi thực hiện các giải pháp, việc không thành công và điều chỉnh cũng là một phần của bài học STEM. Điều đó định hướng việc đánh giá trong các bài học STEM cần đảm bảo đi sâu vào quá trình chứ không chỉ dựa trên kết quả.

Đặc trưng thứ bảy, bài học STEM hướng tới việc phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh. Thông qua quá trình vận dụng kiến thức, kĩ năng của các lĩnh vực khác nhau trong giáo dục STEM sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh phát triển năng lực. Việc giải quyết những nhiệm vụ thực tiễn thông thường tạo cơ hội cho học sinh thể hiện năng lực ở mức độ cao trong quá trình phát triển năng lực.

Tổng hợp: Billy Nguyễn

Thực hiện các dự án học tập để lòng ghép với các bài học trong thế giới thực là một trong các hình thức hiệu quả trong giáo dục STEM. Đó là thiện hiện tính thực tiễn và tính ứng dụng kiến thức thống nhất kết hợp với quy trình tìm tòi khám phá, thiết kế kỹ thuật trong việc giải quyết các vấn đề thực tế. Ở đây, không còn rào cản của việc học kiến thức hàn lâm với ứng dụng thực tiễn. Do vậy, các nội dung giáo dục STEM nên hướng đến các dự án học tập để tăng cường các hoạt động thực hành và vận dụng kiến thức để tạo ra sản phẩm hoặc giải quyết các vấn đề của thực tế cuộc sống.

Dạy hoc dự án là câu trả lời cho sự chênh lệch giữa thức lí thuyết trong nhà trường và kiến thức thực tiễn ngoài xã hội và trong môi trường nghề nghiệp. Dạy học dự án như một hoạt động có ý nghĩa và có tính thực tiễn về giá trị và mục tiêu giáo dục tương ứng với một học nhiều mục tiêu học tập; mà trong đó có tính đến sự tìm tòi nghiên cứu và phương pháp giải quyết các vấn đề bằng cách sử dụng và thao tác trên các công cụ, thiết bị lao động, tương ứng với tình huống của cuộc sống thực tế.

Trong giáo dục STEM, dạy học dự án thể hiện được mục tiêu đặt ra là quá trình tìm tòi nghiên cứu hoặc định hướng một sản phẩm khoa học, công nghệ dựa trên quy trình thiết kế kĩ thuật. Do đó, dựa vào thời điểm triển khai dự án trong khoa học có thể phân loại dự án trong giáo dục STEM thành hai loại là Pre-project và Post-project.

Dự án học tập được hình thành ngay từ khi bắt đầu phần học, khoá học hoặc chương trình học, gọi là Pre-project, dựa trên quá trình tìm tòi nghiên cứu, khám phá các kiến thức trong các lĩnh vực khác nhau mà có sự tích hợp của các lĩnh vực STEM. Trong quá trình học, người học phải tích cực thu thập kiến thức để thực hiện dự án, hoàn thành dự án để chiếm lĩnh kiến thức dựa trên các quy trình khoa học, công nghệ, kĩ thuật. Trong đó, Pre-project xuất phát từ vấn đề, câu hỏi trước khi bắt đầu phần học, đặt người học trong tình huống có nhu cầu phải học để giải quyết vấn đề đặt ra.


Dự án vận dụng kiến thức hay gọi là Post-project được thực hiện vào cuối khoá học, cuối chương trình học, kết thúc chương học. Kiến thức, kĩ năng học sinh thu được trong quá trình học các môn học được vận dụng vào việc thực hiện dự án để tạo ra một sản phẩm dựa trên các quy trình thiết kế kĩ thuật.

Trong quá trình triển khai dạy học dự án về giáo dục STEM cần chú ý đến tiến trình thực hiện dự án. Cần tổ chức để đặt người học vào một bối cảnh, tình huống thực tiễn, cụ thể mà người học phải giải quyết thực sự một vấn đề mà ta có thể giao phó trách nhiệm học tập của học sinh cho chính học sinh thực hiện.

Trong các dự án về giáo dục STEM cần hết sức lưu ý tính vừa sức của học sinh và các kiến thức nền mà học sinh đã học trong chương trình, các kinh nghiệm sẵn có của học sinh và môi trường hỗ trợ học sinh thực hiện dự án để tránh học sinh bị thất bại nhiều lân khi thực hiện dự án do vượt quá sức hoặc dự án đi vào ngõ cụt. Tiến trình thực hiện dự án của học sinh luôn cần phải kèm theo bảng phân công nhiệm vụ và bảng tiến độ công việc thực hiện.

Giáo viên khi đề xuất dự án cần lường trước các tình huống và thể hiện được tiến trình dạy học dự án qua bảng phân công nhiệm vụ và tiến độ dự án để đảm bảo người học phải hoàn thành từng bước và thực hiện một cách tuyến tính các nhiệm vụ đã đặt ra. Bảng phân công nhiệm vụ luôn phải đi kèm với thời gian biểu cụ thể cho từng thành viên và thường xuyên được giám sát để điều chỉnh tiến độ dự án. Giáo viên phải thường xuyên theo dõi sự tiến triển của dự án và điều chỉnh được tiến độ dự án để phục vụ công tác đánh giá người học.

Các giai đoạn xây dựng tiến trình dạy học dự án:


Đặc biệt, cần phải đặt yêu cầu đánh giá dự án ngay khi giao dự án cho học sinh, trong đó thể hiện các tiêu chí, các hình thức và sản phẩm để đánh giá dự án. Dự án học tập được đánh giá dưới nhiều hình thức như dựa trên báo cáo các hoạt động, báo cáo kết quả học tập, nhật kí dự án, hồ sơ dự án, phỏng vấn thành viên, trả lời các câu hỏi mở sau dự án, trả lời phiếu đánh giá dự án….

Đánh giá dự án học tập cần dựa trên các tiêu chí sau:


Theo Etienne, đánh giá trong dạy học dự án cần đề cập đến ba hình thức đó là 

+ Tự đánh giá của mỗi thành viên: Mỗi cá nhân tự đánh giá sự hoàn thiện, cái đó. được, thái độ của mình trong quá trình thực hiện dự án.

+ Đánh giá chéo giữa các thành viên: Thành viên này đánh giá thành viên khác trong nhóm nhằm phát triển năng lực đánh giá người khác của người học dưới sự kiểm soát, điều phối của giáo viên.

+ Đánh giá của giáo viên: Xây dựng phiếu đánh giá tổng thể dự án, học sinh phải điền vào phiếu sau dự án.

Hoặc theo Plé thì hình thức đánh giá trong dạy học dự án cần mang tính tập thể các mức độ như sau:

+ Đánh giá bên trong giữa các nhóm tham gia dự án với nhau.

+ Đánh giá bên ngoài, các cá nhân không tham gia dự án đánh giá kết quả và học tập của dự án.

+ Khi các nhóm tự đánh giá lẫn nhau và các cá nhân bên ngoài đánh giá dự án là cơ hội để giáo viên đánh giá các thành viên dự án, hiệu quả dự án và kết quả học tập của học sinh.

Trong đánh giá các dự án giáo dục STEM cần thể hiện các mức đánh giá về sản phẩm, sự học tập, sự hợp tác và sự tham gia của cá nhân dựa trên một số mức độ sau:


Tổng hợp Nguyễn Nam

Nền giáo dục hiện nay đã và đang chuyển từ dạy học cung cấp kiến thức sang dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh. Tuy nhiên chúng ta mới chỉ đang áp dụng một vài thành tố của dạy học phát triển năng lực như sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, và áp dụng một số hình thức tổ chức dạy học. Trong khi đó, mục tiêu, nội dung chương trình, sách giáo khoa, môi trường dạy học, phương thức đánh giá… trong dạy học phổ thông ở nước ta vẫn là của mô hình dạy học tiếp cận nội dung.

Trong bài viết này chúng ta hãy cùng nhau chia sẻ và thảo luận thêm về dạy học tiếp cận nội dung và dạy học định hướng phát triển năng lực; và cùng nhau làm rõ những yêu cầu cần thiết của một giáo án năng lực (giáo án theo định hướng năng lực) nhé.


Giáo án nội dung và giáo án năng lực

Giáo án là kịch bản lên lớp của mỗi giáo viên với một đối tượng học sinh cụ thể và một nội dung cụ thể trong một không gian và thời gian cụ thể…Chúng ta thường nói “dạy học cũng là một nghệ thuật”, viì thế giáo án là một phần của tác phẩm của mỗi cá nhân giáo viên. Không có và không nên yêu cầu có một giáo án mẫu, chung cho tất cả mọi giáo viên; chỉ cần thống nhất một số yêu cầu cốt lõi cần có, còn trình bày giáo án như thế nào tùy mỗi người.

Giáo án dạy học theo định hướng phát triển năng lực (gọi tắt là giáo án năng lực) đương nhiên khác với giáo án dạy học theo định hướng nội dung (gọi tắt là: giáo án nội dung).


Các yêu cầu thiết yếu của một giáo án năng lực

Không có giáo án chung nhưng khi soạn bài cần phải đáp ứng một số yêu cầu cốt lõi (bắt buộc). Giáo viên cần có quan niệm về giáo án năng lực một cách linh hoạt, vừa chú ý những yêu cầu cốt lõi vừa dành khoảng trống cho sự sáng tạo, khác biệt của mỗi giáo viên.

Yêu cầu cốt lõi (cần có) của giáo án năng lực gồm những điểm sau đây:

a) Mục tiêu bài học cần hướng tới việc hình thành và phát triển năng lực, nhất là năng lực đặc thù của môn học. Cụ thể là mỗi bài học cần xác định mục tiêu phát triển năng lực cụ thể như thế nào? Vì thế cần chú ý yêu cầu cần đạt về các năng lực này đã nêu trong chương trình mỗi lớp. Các năng lực lớn phải qua nhiều bài học mới hình thành được, nhưng mỗi bài học phải hướng tới các biểu hiện cụ thể của năng lực đó và gắn với nội dung bài học cụ thể của giờ học đó. Chú ý xác định mục tiêu phù hợp với đối tượng, tránh ôm đồm nội dung và yêu cầu quá sức (độ khó phải phù hợp với độ tuổi).

b) Tiến trình giờ học phải thông qua các hoạt động và bằng các hoạt động học tập là chính; trong đó học sinh phải chủ động tham gia hoạt động: tìm tòi, khám phá, phát hiện, nêu vấn đề, trao đổi, phản biện, chứng minh, phân tích…. rút ra nhận xét, kết luận của mình; giáo viên là người giao nhiệm vụ, định hướng, hướng dẫn và gợi mở, nêu ý kiến của mình khi cần thiết (đúng lúc, đúng chỗ). Giáo viên không làm thay, học thay cho học sinh; hạn chế diễn giảng, tránh áp đặt ý kiến của mình, tôn trọng ý kiến của học sinh…

Các hoạt động học tập phải bám sát và tập trung thực hiện mục tiêu đã đề ra ở đầu bài học. Mỗi mục tiêu có thể tổ chức một hoặc nhiều hoạt động để đạt được mục tiêu đó. Nhưng không nên tổ chức quá nhiều hoạt động trong một giờ học như thế sẽ làm phân tán nội dung và định hướng của bài học. Muốn thế thầy cô cần phải xác định được trọng tâm và bề rộng của bài học. Việc xác định trọng tâm phụ thuộc vào trình độ của giáo viên dựa trên mục tiêu, yêu cầu của bài học và đối tượng học sinh…

c) Chú ý yêu cầu tích hợp và phân hóa, trước hết là tập vào việc tích hợp các nội dung phù hợp với bài học nhằm phát triển năng lực, việc này đòi hỏi phải giáo viên cần phải có năng lực để gắn kết các nội dung mình đang muốn tích hợp trong bài giảng…

Yêu cầu phân hóa đòi hỏi giờ học cần có các nhiệm vụ, nội dung, cách thức tổ chức học tập phù hợp cho các đối tượng học sinh khác nhau: yếu kém, trung bình và khá giỏi.Giáo viên muốn thực hiện được cần chú ý đến tâm lí lứa tuổi, trình độ nhận thức, hoàn cảnh cá nhân, khai thác vốn hiểu biết và sự trải nghiệm (kiến thức nền) của học sinh.

Trên đây là những yêu cầu cốt lõi cần có với giáo án năng lực (dạy học theo hướng phát triển năng lực). Tất cả các yêu cầu khác như các bước lên lớp, mở đầu và kết thúc, sử dụng thiết bị dạy học, hình thức dạy học, phương pháp và kĩ thuật dạy học… đều khuyến khích giáo viên tự chủ, sáng tạo và không cần phải giống nhau. Từ các điểm trên giao viên vận dụng vào các bài học một cách linh hoạt phù hợp với đặc trưng môn học và đặc trưng của đối tượng học sinh mà mình giảng dạy.

Billy Nguyễn

1. Nguyên tắc đành giá năng lực

Nguyên tắc đánh giá trong giáo dục STEM bám sát nguyên tắc đánh giá năng lực chung, đó là:

+ Đánh giá bám sát mục tiêu phát triển năng lực. 

+ Đánh giá quá trình kết hợp với đánh giá kết quả. Đánh giá quá trình thông qua quan sát trực tiếp, thông qua sản phẩm của quá trình. Đánh giá kết quả thông qua sản phẩm cuối cùng, thông qua bài kiểm tra.

+ Đánh giá của giáo viên sử dụng cả các kết quả tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng.

Để nắm bắt tốt hơn mục đích và các đặc điểm của giáo dục STEM cũng như để triển khai hướng dẫn việc dạy và học STEM một cách đúng đắn, các khung đánh giá và công cụ trong khoa học giáo dục đương thời nên được xem xét lại và cải tạo cho phù hợp. Ngoài ra, các công cụ thích hợp, phù hợp với việc học tập theo định hướng STEM, nên được phát triển để đánh giá việc giảng dạy và học tập một cách hiệu quả.


Các công cụ sử dụng cần thỏa mãn được các tiêu chí:

+ Tương thích với công cụ đa phương tiện và mô phỏng. Vì vậy, bối cảnh thực tế và tài liệu có thể được xây dựng cho học sinh để minh hoạ việc cho quá trình khám phá và quy trình kỹ thuật, giải quyết các vấn đề.

+ Hỗ trợ nhiều cách để ghi lại những suy nghĩ, vấn đề thực tiễn và sản phẩm của học sinh, bao gồm các bài viết, hình ảnh hoặc video. Theo đó, học sinh có thể thể hiện nhiều cách tiếp cận khác nhau trong việc giải quyết các vấn đề. Việc học theo định hướng STEM của học sinh nhờ vậy có thể được hiểu và đánh giá một cách sâu sắc và chính xác hơn.

+ Tạo điều kiện cho việc thảo luận và cộng tác giữa các học sinh. Nhờ đó, học sinh được khuyến khích làm việc nhóm hiệu quả để khám phá và giải quyết các vấn đề. Sự tham gia và đóng góp của mỗi học sinh vào việc giải quyết vấn đề có thể được nhìn thấy và đánh giá.
Khung đánh giá của mỗi nội dung giáo dục STEM cần mô tả một cách linh hoạt dựa trên ý kiến của các chuyên gia, giáo viên có kinh nghiệm.

2. Quy trình đánh giá năng lực 

Việc đánh giá cần bám sát mục tiêu dạy học, do đó, nếu mục tiêu dạy học thể hiện rõ cả ba yếu tố: nội dung cốt lõi cần đạt, hành vi cần thực hiện và mức độ chất lượng cần có của hành vi đó, thì việc đánh giá cũng sẽ phải thể hiện được cả ba yếu tố này. Điều đó đòi hỏi phải phối hợp đánh giá quá trình và đánh giá kết quả.

Đánh giá theo nghĩa rộng bao gồm hai quá trình: kiểm tra (assessment) và đánh giá (evaluation). Trong sơ đồ dưới đây quá trình thu thập các thông tin về các biểu hiện năng lực của học sinh chính là quá trình kiểm tra và quá trình so sánh thông tin thu được với các tiêu chí trong cấu trúc năng lực chính là quá trình đánh giá.



Đánh giá năng lực sẽ phải thông qua đánh giá các hành vi của năng lực đó trong các bối cảnh cụ thể. Do đó, để đánh giá năng lực cần chuyển hoá các hành vi năng lực thành các mục tiêu dạy học cụ thể, việc đánh giá các hành vi này sẽ được sử dụng theo các bước:

+ Giao nhiệm vụ cho học sinh thực hiện các hành vi cần đánh giá.

+ Thu thập các minh chứng về hành vi cần đánh giá. Tùy theo các hành vi khác nhau mà ta sẽ sử dụng những công cụ khác nhau để thu thập minh chứng về các hành vi này. Đó có thể là phiếu học tập, hồ sơ dự án, sản phẩm dự án hoặc thông qua quan sát trực tiếp quá trình của học sinh.

+ Đánh giá các thông tin thu được thông qua việc so sánh các minh chứng với các tiêu chí chất lượng hành vi đã mô tả trong cấu trúc năng lực. Ví dụ quen thuộc nhất của việc này đó là đối chiếu bài làm của học sinh với đáp án của giáo viên. Với các hành vi phức tạp như thuyết trình, làm thí nghiệm … cần sử dụng bảng đánh giá theo tiêu chí (Rubric) để hỗ trợ quá trình so sánh này nhằm đảm bảo tính khách quan trong việc đánh giá.

Tổng hợp: Nguyễn Nam – tham khảo STEM trong giáo dục phổ thông

Sự khác biệt nằm ở cách đặt vấn đề, phương pháp thiết kế chương trình tiếp thu những thay đổi mới nhất của môn học này trên thế giới.



Muốn tìm hiểu, nhận biết sự khác biệt cơ bản và lớn nhất giữa chương trình (CT) môn tin học hiện tại (cũ) với CTGDPT mới cần có cái nhìn tổng thể, không sa đà vào chi tiết. Sự khác biệt nằm ở cách đặt vấn đề, phương pháp thiết kế chương trình tiếp thu những thay đổi mới nhất của môn học này trên thế giới. Có thể trả lời câu hỏi trên như sau: có 3 sự khác biệt lớn nhất giữa CT môn tin học cũ và CT mới, được mô tả nhanh trong bảng sau:


Trong 3 yếu tố trên, theo tôi, yếu tố thứ 2 mang tính quyết định nhất cho sự thay đổi lần này. Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu nhanh cả 3 yếu tố khác biệt trên. Trong các phần sau của bài viết tôi sẽ đi sâu hơn từng yếu tố.

1. Thiết kế chương trình môn Tin học dựa trên các yêu cầu năng lực

Điểm khác biệt quan trọng đầu tiên của CTGDPT mới là cách tiếp cận thiết kế chương trình. Đó là cách tiếp cận Chương trình dựa trên yêu cầu năng lực. Nói một cách dễ hiểu là khi thiết kế chương trình sẽ không bắt đầu từ các nội dung cụ thể cần học, cần dạy, mà bắt đầu từ yêu cầu năng lực đầu ra của học sinh ở mỗi cấp học. Các yêu cầu này căn cứ vào nhu cầu thực tế của xã hội. Dựa trên các yêu cầu năng lực này, những người thiết kế chương trình sẽ đưa ra các nội dung, mạch kiến thức cần học để đạt được các yêu cầu đó. Điểm đặc biệt này không chỉ áp dụng của môn Tin học, mà áp dụng cho tất cả các môn học của CTGDPT mới lần này.

Quay lại môn Tin học, chương trình GDPT mới môn Tin học đã đưa ra 5 thành tố năng lực sau, ký hiệu chúng là (a), (b), (c), (d) và (e).

(NLa) Năng lực sử dụng và quản lí các phương tiện, công cụ và các hệ thống tự động hoá của công nghệ thông tin và truyền thông;

(NLb) Năng lực hiểu biết và ứng xử phù hợp chuẩn mực đạo đức, văn hoá và pháp luật trong xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức;

(NLc) Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề với sự hỗ trợ của công nghệ kĩ thuật số;

(NLd) Năng lực học tập, tự học với sự hỗ trợ của các hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông;

(NLe) Năng lực giao tiếp, hòa nhập, hợp tác phù hợp với thời đại thông tin và nền kinh tế tri thức.



Có 2 chú ý quan trọng sau:

1. Trong các năng lực trên, chúng ta dễ thấy không phải năng lực nào cũng mang tính "Tin học", nghĩa là năng lực đó bắt buộc phải đạt được thông qua việc học và dạy nội dung Tin học. Có một số thành tố năng lực, ví dụ (b) và (e) có thể đạt được thông qua các môn học khác, hay nói chính xác hơn có thể nhận được từ việc tích hợp hoặc liên môn. Tính tích hợp và liên môn trong CTGDPT mới được nhấn mạnh khác nhiều, tôi sẽ không nói nhiều về đặc điểm này tại đây, hy vọng sẽ quay lại vấn đề này ở một chỗ khác.

2. Về lý thuyết toàn bộ CTGDPT mới sẽ chỉ bao gồm các yêu cầu chi tiết của năng lực đã nêu trên cho từng cấp học. Bảng liệt kê các yêu cầu năng lực chính được phân bổ cho từng cấp học (Tiểu học, THCS, THPT) trong CTGDPT mới môn Tin học sẽ được mô tả trong các bảng dưới đây. Các giáo viên cần nắm vững tinh thần của các yêu cầu này cho từng cấp học để định hướng việc học và dạy theo đúng các yêu cầu đầu ra này.

1. Yêu cầu năng lực cấp Tiểu học


2. Yêu cầu năng lực cấp THCS


3. Yêu cầu năng lực cấp THPT


2. Phân biệt rõ 3 định hướng cơ bản: CS (khoa học máy tính), IT (ứng dụng CNTT) và DL (học vấn số hóa phổ thông).

Sự khác biệt thứ 2 của CTGDPT mới môn Tin học, theo tôi là quan trọng nhất, chính là sự định hướng rõ ràng thành 3 mạch (hướng) kiến thức chính: CS (khoa học máy tính), IT (ứng dụng CNTT) và DL (học vấn số hóa phổ thông).

Thông tin này được viết ngay trong phần đầu tiên của chương trình, phần Mục tiêu môn Tin học, như sau:

Mục tiêu môn Tin học:

Khoa học máy tính nhằm giúp học sinh hiểu biết các nguyên tắc cơ bản và thực tiễn của tư duy tính toán; tạo cơ sở cho việc thiết kế và phát triển các hệ thống máy tính.

Công nghệ thông tin và truyền thông nhằm giúp học sinh có khả năng sử dụng và áp dụng hệ thống máy tính giải quyết vấn đề thực tế một cách hiệu quả và sáng tạo.

Học vấn số hoá phổ thông nhằm giúp học sinh có khả năng hoà nhập với xã hội hiện đại, sử dụng được các thiết bị số và phần mềm cơ bản thông dụng một cách có đạo đức, văn hoá và tôn trọng pháp luật.



Các Mục tiêu này sau đó được viết rất rõ khi phân bổ xuống từng cấp học. Mọi người có thể tham khảo bản dự thảo CTGDPT môn Tin học để hiểu rõ hơn các mục tiêu này.

Với việc phân tách rõ ràng thành 3 mạch kiến thức chính, trong đó nêu rõ, hướng CS - khoa học máy tính là trọng tâm của Chương trình mới, là một sự phát triển mang tính đột phá lớn nhất, cách mạng nhất của Chương trình môn Tin học mới lần này.

Để có thể hình dung được 3 định hướng này của môn Tin học tôi sẽ vẽ một mô hình tương tự cho 2 môn học Toán và Ngữ văn mà mỗi chúng ta đều đã hiểu rất rõ. Trong sơ đồ dưới đây có thể hình dung được một phần ý nghĩa của các mạch kiến thức CS, IT, DL đóng vai trò gì trong môn Tin học.


Hãy tưởng tượng toàn bộ môn Toán trong trường phổ thông bây giờ, nếu học sinh chỉ học bảng cửu chương và đo lường các đại lượng thì môn Toán sẽ như thế nào.

Hay với môn Ngữ văn, nếu học sinh chỉ học bảng chữ cái, học viết, đánh vần và đọc hiểu và hoàn toàn không có phần cảm thụ văn học thì môn này sẽ như thế nào.

Với Tin học cũng vậy.

Một thời gian quá dài, không chỉ chúng ta, mà toàn thế giới đều nghĩ và thực hiện việc dạy Tin học chỉ có 2 phần là DL và IT, hoàn toàn vắng bóng CS. Mà CS mới là cái lõi quan trọng nhất của Tin học, của tư duy máy tính. Điều đó giải thích vì sao trong suốt thời gian dài 20-30 năm qua, môn Tin học trở thành một học phụ và chán như thế nào.

Chúng ta cùng phân tích nhanh vì sao sự thay đổi này lại mang tính đột phá nhất của CTGDPT mới môn Tin học.

(1) Với sự phân tách các nội dung kiến thức của môn Tin học trong nhà trường thành 3 hướng chính: CS, IT và DL sẽ giúp cho không chỉ những người vạch định chương trình, mà toàn thế giáo viên có thể hình dung rõ ràng hơn toàn bộ khung chương trình môn Tin học mới này.

(2) Việc tách và phân biệt rõ 3 định hướng CS, IT, DL sẽ làm cho môn Tin học mới bây giờ dễ dàng có thể thiết kế chi tiết để trở thành một môn khoa học logic chặt chẽ, tương tự như các môn có tính khoa học khác như Toán, Vật lý, Hóa học, …

(3) Với việc đưa nội dung kiến thức CS xuống chương trình phổ thông, ngay từ bậc Tiểu học thực sự là đột phá lớn mà trước đó không ai có thể nghĩ làm được. Đây là một bước tiến lớn, không chỉ ở Việt Nam, mà đang là xu thế của tất cả các quốc gia trên thế giới. Đã đến lúc và thời cơ để đưa các khoa học lõi của môn Tin học xuống dạy cho học sinh phổ thông, kể cả từ cấp Tiểu học.

3. Chương trình sẽ bao gồm các mạch kiến thức xuyên suốt, phát triển xoáy trôn ốc theo từng lớp và cấp học.

Các mạch kiến thức lõi, xuyên suốt tồn tại trong tất cả các chương trình môn Tin học trước đây, nhưng trong CTGDPT mới, các mạch kiến thức này được thiết kế một cách hoàn chỉnh nhất, đồng bộ nhất.

Có thể có người sẽ thắc mắc ngay là nếu một chương trình đã được xây dựng dựa trên năng lực cần đạt thì sẽ không cần chỉ ra chi tiết các mạch kiến thức cụ thể nữa. Thắc mắc này là đúng, tuy nhiên trong bất cứ chương trình nào, một Ma trận các mạch kiến thức lõi, cơ bản nhất bao giờ cũng cần thiết. Các mạch kiến thức lõi này có thể hiểu đơn giản là những kiến thức khoa học đặc thù, tối thiểu nhất của môn học này mà không thể lược bỏ đi được nữa. Nếu lược bỏ đi, tính chất của môn học này sẽ bị thay đổi. Vậy ma trận các mạch kiến thức lõi có thể hiểu là những mạch kiến thức tối thiểu nhất, là bộ xương sống tạo nên cái khung chính của môn học này.

Trong CTGDPT mới đã đưa ra 7 mạch kiến thức lõi chính, xuyên suốt và phát triển xoáy trôn ốc theo các cấp từ thấp đến cao và thậm chí theo từng lớp học.

7 mạch kiến thức lõi của CTGDPT mới môn Tin học được mô tả trong bảng sau. Tôi viết thêm cột Mô tả nhanh để các giáo viên có thể hình dung chính xác các mạch kiến thức này.


Mô hình 7 Mạch kiến thức lõi và quan hệ của chúng với các định hướng CS, IT, DL là 5 thành tố năng lực được mô tả nhanh trong sơ đồ sau. Sơ đồ này do tôi tự vẽ, không phải lấy từ văn bản chương trình gốc.




Bùi Việt Hà

Ưu tiên cấp bách hàng đầu hiện nay là phải đổi mới giáo dục thông qua chuyển đổi kỹ thuật số để giảm thiểu gián đoạn giáo dục trong tương lai.

Hội nghị “Chuyển đổi kỹ thuật số các hệ thống giáo dục trong toàn Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á".

Sáng 15/10, Bộ GD&ĐT phối hợp Quỹ Nhi đồng Liên Hợp quốc (UNICEF) và Ban Thư ký ASEAN tổ chức hội nghị trực tuyến "Chuyến đổi kỹ thuật số các hệ thống giáo dục trong toàn Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á".

Đây là sáng kiến của Bộ GD&ĐT Việt Nam, với mục tiêu ghi nhận sự cần thiết phải phát triển kỹ năng số, kỹ năng có thể chuyển giao trong hệ thống giáo dục ASEAN, chia sẻ thực tiễn tốt và nêu bật thách thức; thiết lập đồng thuận giữa các quốc gia thành viên ASEAN để tìm ra giải pháp bền vững, sáng tạo, nhằm tích hợp kỹ năng thông thạo kỹ thuật số cùng kỹ năng có thể chuyển giao trong các hệ thống giáo dục, đồng thời xác định lĩnh vực các quốc gia thành viên và đối tác cùng nghiên cứu và hợp tác.

Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phùng Xuân Nhạ cho biết, hơn hai tháng trước, hội nghị Đại hội đồng Liên Nghị viện ASEAN (AIPA) với chủ đề Đối tác Nghị viện về Hợp tác Giáo dục và Văn hóa đã kết luận, ưu tiên cấp bách hàng đầu hiện nay là phải đổi mới giáo dục thông qua chuyển đổi kỹ thuật số để giảm thiểu gián đoạn giáo dục trong tương lai. Chính vì vậy, chúng ta cần thiết lập một nền tảng chung để chia sẻ tài nguyên kỹ thuật số nhằm thu hẹp khoảng cách tiếp cận giáo dục do chênh lệch công nghệ trong khu vực gây ra.

Tiến bộ không ngừng về công nghệ cùng nguồn thông tin khiến năng lực kỹ thuật số trở nên cần thiết đối với mỗi học sinh, vì vậy, một phần chính trong thảo luận tại Hội nghị là làm thế nào phát triển năng lực kỹ thuật số cho thế hệ trẻ.

Năng lực kỹ thuật số ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập, hỗ trợ khả năng tìm kiếm tài liệu học tập, kết nối kiến thức. Bộ kỹ năng này rất có giá trị, giúp thúc đẩy năng lực sáng tạo vượt ra ngoài môi trường lớp học hoặc trường học thông thường, và phải là ưu tiên hàng đầu, ngay từ cấp học đầu tiên.

Học sinh và giáo viên cần được tiếp cận không hạn chế ứng dụng công nghệ thông tin để kết nối, khai thác, tận dụng tri thức của nhân loại. Để làm được điều này, cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ giảng dạy, quản lý phải được phát triển trong trường học, nơi mỗi học sinh, giáo viên, cán bộ quản lý đều có quyền, khả năng khai thác, sử dụng hệ thống. Nhiệm vụ của chúng ta là tạo điều kiện thuận lợi cho tiến trình này, đồng thời thiết lập một nền tảng chung để chia sẻ tài nguyên kỹ thuật số nhằm thu hẹp khoảng cách tiếp cận giáo dục do chênh lệch công nghệ trong khu vực gây ra.


Nhật Nam (Chính Phủ)

PySioGame là phần mềm mã nguồn mở, một ứng dụng đa nền tảng gồm những hoạt động và trò chơi giáo dục định hướng STEM - STEAM dành cho trẻ em khá đơn giản nhằm mang đến cho các em một số kỹ năng cơ bản.

PySioGame tập trung chủ yếu vào việc giảng dạy Toán học và một số các lĩnh vực khác như dạy chữ cái, dạy đọc, dạy viết tiếng anh, phân biệt màu sắc, luyện trí nhớ và nhiều hơn nữa... Các bạn nhỏ có thể bắt đầu vừa học vừa chơi một số hoạt động trên phần mềm này.


Phần mềm có giao diện như hình vẽ với chủ yếu 3 chủ điểm chính là Language Arts, Mathematics và Các hoạt động tư duy bao gồm Phân biệt màu sắc, luyện trí nhớ và rất nhiều trò chơi giáo dục... chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu các tính năng này.


Từ 3 chủ điểm chính, các bạn sẽ thấy phần mềm có các tính năng:

1. Chủ điểm Language Arts – Nghệ thuật ngôn ngữ

Các bạn có thể học bảng chữ cái Tiếng Anh thông qua các thẻ Flashcard, mỗi chữ cái sẽ có các từ khóa chính và hình ảnh minh họa và học viết các chữ cái... với các chức năng này, bạn có thể sử dụng tốt trên các thiết bị có màn hình cảm ứng như điện thoại, máy tính bảng Ngoài ra, các bạn nhỏ cũng có thể học chữ cái và các từ tiếng anh thông qua các trò chơi như kéo thả từng chữ cái vào đúng vị trí trong bảng chữ cái, kéo thả các chữ cái để ghép thành một từ ý nghĩa có mô tả hình ảnh, phân loại từ, ghép từ và trải nghiệm mê cung từ ... rất thú vị.


2. Chủ điểm Mathematics – Toán học

Để vào chức năng học Toán, các bạn kích lên nút lệnh Mathematics (nút lệnh thứ 2 phía bên trái màn hình). Với một loạt các bài học về môn Toán được mô phỏng qua các trò chơi, các bạn sẽ được học về các phép toán Cơ bản, học số đếm, học bốn phép tính, phân loại số chẵn lẻ, phép so sánh và phân loại, tự vẽ các hình hình học và học cách xem giờ đồng hồ...



3. Các hoạt động tư duy

Các bạn còn có thể lựa chọn các hoạt động khác như: Học vẽ và tô màu, Phân biệt màu sắc, Trò chơi quan sát các hình ảnh, ghép hình, sắp xếp các số và luyện trí nhớ... Các hoạt động mang đến cho các bạn một cách học tập mới, nâng cao khả năng quan sát, tư duy nhanh nhạy trong các bài luyện trí nhớ. Ngoài ra, các bạn nhỏ sẽ được học các bài học về luyện gõ bàn phím máy tính với một bàn phím nhiều màu sắc... Bạn có thể nhìn thấy bàn phím được phân loại màu sắc giống cùng màu với những ngón tay để bạn dễ phân biệt và luyện gõ nhanh hơn và khoa học hơn.



Để tải phần mềm, các bạn vào địa chỉ: https://sourceforge.net/projects/pysiogame/files/eduactiv8, tải file nén eduactiv8-4.20.01-win, sau đó giải nén và chạy file eduactiv8.exe để bắt đầu sử dụng phần mềm. Yêu cầu sử dụng phần mềm: Phần mềm có thể cài đặt trên các hệ điều hành Windows, MacOS, Linux...

Khi bắt đầu với phần mềm, bạn có thể đăng ký một tài khoản hoặc sử dụng tài khoản Guest để vào các hoạt động. Để tạo một tài khoản mới, bạn chọn lệnh User Management và điền các thông số để đăng ký một tài khoản mới. Sau đó, các bạn quay về lệnh Login (nút lệnh chìa khóa), đăng nhập và bắt đầu vào chương trình.

Phần mềm pySioGame được đánh giá là một ứng dụng hữu ích với khá nhiều chức năng phù hợp cho các bạn nhỏ vừa vui chơi vừa được học rất nhiều kiến thức thông qua các hoạt động và các trò chơi. Các bạn nhỏ hãy cài đặt ngay trên máy tính để khám phá nhé.

Chúc các bạn có quãng thời gian bổ ích và lí thú với pySiogame!

Lê Duy An - Học viện STEAM – STEAM Academy

Cho đến thời điểm trước khi CTGDPT mới áp dụng, môn Tin học trong nhà trường Việt Nam đã hình thành với toàn bộ chương trình và SGK phủ kín từ lớp 3 đến 12. Tuy nhiên chương trình cho cấp Tiểu học và THCS là tự chọn, điều đó có nghĩa là không phải tất cả HS đều được học môn học này liên tục từ lớp 3 đến lớp 12. 


Có thể điểm qua toàn bộ các module kiến thức chính của môn Tin học trong trường phổ thông của Việt Nam là:


Trước khi phân tích sâu vào các vấn đề "lạc hậu" của chương trình này, cũng cần lưu ý các điểm sau:

- Vấn đề được đặt ra về sự bất cập hay lạc hậu không chỉ có ở Việt Nam, mà có ở trên toàn thế giới. Với các quốc gia khác, kể cả những nước khoa học phát triển như Anh, Mỹ các vấn đề tương tự cũng nảy sinh (xem phần sau).

- Trong hoàn cảnh thực tế máy tính PC mới chỉ xuất hiện vào thập kỷ 80 của thế kỷ trước, và CNTT thay đổi chóng mặt trong suốt 40 năm trở lại đây thì việc hình thành chương trình môn Tin học như là 1 tập hợp tương đối rời rạc của các module kiến thức như trên là 1 điều dễ hiểu. Việc ngành giáo dục thiết kế được một chương trình như trên đã là 1 cố gắng rất lớn, đáp ứng nhu cầu học tập, khai thác, sử dụng các ứng dụng của CNTT trong đời sống hàng ngày của học sinh.

- Thật ra ngành khoa học máy tính cũng chỉ mới hình thành và định hình khoảng 50 năm trở lại đây. Trong suốt thời gian đó, môn học này chỉ dành cho sinh viên bậc đại học. Chưa có 1 quốc gia nào dám nghĩ đến chuyện cần đưa các kiến thức lõi của khoa học máy tính xuống nhà trường phổ thông, ngoại trừ 1 số kiến thức xoay quanh thuật toán và lập trình để phục vụ cho các cuộc thi lập trình ở mức quốc gia và thế giới, ví dụ cuộc thi Olympic Tin học quốc tế IOI.

Bây giờ chúng ta sẽ phân tích sơ bộ về chương trình trên.

1. Chương trình môn Tin học không phải là 1 chương trình liền mạch, thống nhất và xuyên suốt.

Nhìn vào toàn bộ chương trình chúng ta thấy rõ chúng được tạo thành từ các module rời rạc. Có thể phân tích chi tiết hơn cũng sẽ thấy 1 số mạch kiến thức, mặc dù chưa hoàn chỉnh. Có thể chỉ ra ở đây 1 vài mạch kiến thức trong chương trình trên.

- Sử dụng và khai thác máy tính và các thiết bị CNTT đi kèm.

- Tìm hiểu và nhận dạng phần cứng, phần mềm máy tính.

- Tổ chức dữ liệu và khai thác thông tin.

- Học gõ bàn phím, soạn thảo văn bản, bảng tính điện tử, trình chiếu.

- Sử dụng các phần mềm hỗ trợ học tập.

- Lập trình máy tính.

Các mạch kiến thức này là có nhưng lại được thể hiện bằng các nhóm, module kiến thức độc lập, rời rạc, không có liên kết với nhau. Ngay chính các GV cũng không nhận ra và hiểu được có hay không các mạch kiến thức này.

2. Có rất nhiều module chương trình bị trùng lặp giữa các cấp học

Chương trình môn Tin học hiện nay chỉ bắt buộc từ cấp THPT, còn từ các cấp khác đều là tự chọn. Do đó rất nhiều module kiến thức sẽ cần phải học lại từ đầu cho mỗi cấp học. Hiển nhiên điều đó kéo theo có rất nhiều module chương trình và kiến thức bị trùng lặp giữa các cấp học.

Với đặc điểm này mà môn Tin học trong chương trình giáo dục cũ (hiện nay) không thể là một chương trình môn học có tính logic và khoa học hoàn chỉnh.

3. Các module rời rạc và không có quan hệ logic, khoa học chặt chẽ

Vì chương trình môn Tin học cũ (hiện tại) được thiết kế riêng rẽ cho từng cấp học, nên trong từng cấp học tính liên thông, logic sẽ có nhiều hơn. Còn xét tổng thể trên toàn bộ 3 cấp thì chương trình này là rời rạc và không có quan hệ logic chặt chẽ. Thật ra khi thiết kế các chương trình của từng cấp, nhóm các chuyên gia cũng đã biết và tính đến quan hệ liên thông giữa các cấp học. Tuy nhiên do bản chất của chương trình là những module rời rạc nên không thể có 1 chương trình tổng thể tối ưu được.

Chính vì đặc điểm này nên có thể nói môn Tin học là "đặc biệt" khác hẳn với tất cả các môn học khác trong chương trình giáo dục. Tất cả các môn học khoa học khác (Toán, Lý, Hóa, Sinh, Ngữ văn, Sử, Địa) đều là những môn học được hình thành từ rất lâu, đã được thiết kế gần như hoàn thiện.

Có lẽ cũng chính vì đặc điểm này nên mặc dù đã được áp dụng từ khá lâu trong hệ thống giáo dục thì môn Tin học chưa bao giờ được đưa vào danh sách môn thi khi kết thúc 1 cấp học, thi tốt nghiệp THPT hay thi tuyển sinh đại học, cao đẳng.

4. Vắng bóng hoặc hoàn toàn không có các kiến thức lõi của khoa học máy tính

Đây là đặc biệt rõ nét nhất của chương trình môn Tin học cũ (hiện nay) và cũng là điểm khác biệt lớn nhất so với chương trình môn Tin học mới trong tương lai. Đặc điểm này xuất phát từ khung chương trình môn Tin học đã nêu ở trên. Vấn đề là vì sao lại như vậy? Trong các phần sau tôi sẽ phân tích kỹ hơn điều này nhưng ở đây chỉ phác họa một vài ý chính:

- Không phải chỉ ở Việt Nam, mà điều này đúng cho tất cả các quốc gia khác.

- Rất khó có thể đưa phần kiến thức lõi của khoa học máy tính xuống nhà trường phổ thông vì nhiều lý do. Một trong các lý do chính là không thể dạy kỹ thuật lập trình cho học sinh nhỏ tuổi. Trong chương trình hiện tại, 2 module học lập trình Pascal được dạy ở lớp 8 (THCS) và lớp 11 (THPT) và học sinh rất vất vả tiếp thu phần kiến thức này.

- Ý kiến chung của hầu hết các chuyên gia CNTT và sư phạm trên thế giới đều đồng ý với nhận định rằng chưa cần đưa các kiến thức lõi của khoa học máy tính xuống phổ thông, đặc biệt là cấp 1, 2.

5. Chỉ tập trung vào các ứng dụng cụ thể, phụ thuộc quá nhiều vào phần cứng, thiết bị, phần mềm.

Trong chương trình môn Tin học không thể vắng bóng việc ứng dụng các dịch vụ và phần mềm vào các công việc cụ thể. Tuy nhiên tất cả các ứng dụng kiểu này đều phải phụ thuộc vào phần cứng, phần mềm hay thiết bị cụ thể. Do vậy nếu 1 chương trình chỉ bao gồm (hay phần lớn bao gồm) các ứng dụng như vậy thì rất phụ thuộc vào công nghệ và dễ bị lạc hậu. Các chương trình như vậy sẽ có đời sống ngắn và bị lạc hậu nhanh.

Vậy có cách nào để xây dựng một chương trình mà ít phụ thuộc nhất vào công nghệ, dịch vụ cụ thể hay không? Đó cũng chính là bài toán đặt ra cho những người thiết kế chương trình môn Tin học trong CTGDPT mới.

Một số hệ lụy từ sự "lạc hậu" của chương trình môn Tin học như đã phân tích ở trên.

1. Phần kiến thức, công nghệ tin học dạy trong nhà trường luôn lạc hậu với thực tế.

2. Vì không là 1 môn, mạch kiến thức khoa học, chặt chẽ nên môn Tin học không gây được sự hấp dẫn của người dạy và người học.

3. Có một khoảng cách rất xa giữa HS, GV các vùng miền, giữa HS giỏi và đại đa số học sinh bình thường khác.

4. Rất khó và có cảm giác bế tắc khi muốn thay đổi và thoát ra khỏi tình trạng này.

5. Môn Tin học trong suốt thời gian qua là môn phụ, không thi ở bất cứ cấp học nào, vì vậy HS và GV càng không có động lực để học, dạy môn học này.

Nói thêm 1 chút về 1 tài liệu quan trọng của các chuyên gia giáo dục Anh quốc (cuốn [11] shutdown or restart), các tác giả đã phân tích sự tụt hậu của chương trình môn Tin học tại nước Anh như sau (tóm tắt):

- Rời rạc, không liên thông, không liền mạch.

- Không đủ cơ sở vật chất hỗ trợ giảng dạy.

- Không khoa học hoặc rất khó xác định tính khoa học chặt chẽ và mạch chính của kiến thức.

- GV dạy không hứng thú, không có động lực để học thêm, đào sâu thêm kiến thức.

- HS học nhàm chán vì kiến thức công nghệ bị lạc hậu với thực tế.

Chú thích thêm:

- Tại nước Anh tên môn học này gọi là ICT và được coi là 1 cái tên không hợp lý vì nó rất dễ nhầm lẫn với tên 1 hệ thống thông tin. 

Do vậy môn Tin học đứng trước thách thức rất lớn là cần thay đổi. Nhưng thay đổi như thế nào? Theo hướng nào? Thay đổi để làm sao khắc phục được các khuyết điểm trên? Tất cả những vấn đề đó đều rất rất khó giải quyết. Không phải các chuyên gia, các nhà giáo không biết những điều trên, họ biết hết nhưng lực bất tòng tâm. Vấn đề lớn nhất là công nghê liên quan đến CNTT, ICT phát triển quá nhanh, trong khi khoa học lõi của ngành này lại không thể hoặc chưa thể đưa xuống dạy cho HS từ nhỏ tuổi. 

Một trong những tài liệu đầu tiên đề cập tới vấn đề này là cuốn sách Shutdown or restart mà tôi nhắc đến ở trên. Cuốn này được viết năm 2012 và là tiền đề để nước Anh là quốc gia đầu tiên thực hiện cuộc cách mạng thay đổi hoàn toàn môn Tin học trong nhà trường. Trong cuốn sách đó, lần đầu tiên các chuyên gia đã phân loại chính xác 3 hướng nội dung chính của kiến thức Tin học trong trường học. Việc phân loại này sẽ giúp các nhà quản lý và chuyên gia GD hiểu rõ hơn và định hướng được tương lai của môn học này. Phân loại nội dung trong cuốn sách đó như sau:

Toàn bộ kiến thức cần học của Tin học sẽ được chia làm 3 nhóm chính:

1. CS (computer science): Khoa học máy tính.

2. IT (infomation technology): CNTT và ứng dụng.

3. DL (digital literacy): Học vấn số hóa phổ thông.

Tóm tắt như sau.

CS - Khoa học máy tính: Xử lý số, tư duy giải quyết vấn đề, thiết lập chương trình, thuật toán, tư duy máy tính.

IT - CNTT và ứng dụng: Sử dụng công nghệ xử lý số, phần mềm để ứng dụng và tạo ra các sản phẩm số. Ví dụ đồ họa, phim, ảnh, ứng dụng trong các công việc đời sống.

DL - Học vấn số hóa phổ thông: Các kỹ năng cơ bản, tối thiểu cần có trong thời đại số hóa, để có thể hòa nhập trong kỷ nguyên kỹ thuật số, ví dụ: Kỹ năng sử dụng chuột, gõ bàn phím; Soạn thảo văn bản, bảng tính, trình chiếu; Khai thác Internet. Sử dụng thư điện tử và mạng xã hội; luật sở hữu trí tuệ, bản quyền nội dung số, ….

Chú ý: Trong 3 hướng trên chỉ có CS là nội dung có tính khoa học chặt chẽ nhất, liên thông, liên tục, không bị lạc hậu nhanh với công nghê. Cũng theo sách trên, CS phải là hướng trọng tâm nhất, quan trọng nhất trong định hướng môn Tin học tương lai. 

Chúng ta cùng phân loại lại các nội dung đã có trong chương trình môn Tin học hiện nay:


Như vậy trong chương trình môn Tin học hiện nay, phần lớn kiến thức được dạy cho HS là mảng IT và DL, mảng kiến thức lõi nhất là CS hầu như không có. Điều này lý giải vì sao môn Tin học không trở thành môn học quan trọng và hấp dẫn HS và GV như thời gian qua.


Bùi Việt Hà

1. Mở đầu 

Sự phát triển của công nghệ thông tin (CNTT) nói chung và Internet nói riêng đã mang lại những thay đổi đáng kể trong cuộc sống [1]. Internet là môi trường thông tin liên kết mọi người trên toàn thế giới với nhau, cùng chia sẻ những vấn đề mang tính toàn cầu. Sự tồn tại của Internet đã thay đổi cách thức làm việc, trao đổi thông tin, kể cả cách học tập, nghiên cứu của nhiều người. Các dịch vụ Internet ngày càng trở nên đa dạng và hữu ích hơn. Chính vì thế, sự hiểu biết về Internet và khả năng sử dụng, khai thác thông tin trên Internet cũng ngày càng trở nên quan trọng và thiết thực cho mỗi người. Xu hướng phát triển của các phần mềm hiện nay là xây dựng các ứng dụng có khả năng chia sẻ cao, vận hành không phụ thuộc vào vị trí địa lí cũng như hệ điều hành; tạo điều kiện cho mọi người có thể trao đổi, tìm kiếm thông tin, học tập một cách dễ dàng và thuận tiện. Trong bài viết này, chúng tôi tìm hiểu vai trò của Internet đối với dạy học theo định hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề (GQVĐ).

2. Nội dung nghiên cứu 

2.1. Vai trò của  Internet đối với dạy học theo định hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề
 
Theo một số quan điểm, “năng lực” là một tổ hợp bao gồm nhiều kĩ năng thực hiện những hành động thành phần và có liên quan chặt chẽ đến động cơ, hứng thú khi thực hiện các hành động đó [2], [3], [4]. Như vậy, xét từ phương diện tìm cách phát triển năng lực GQVĐ cho học sinh (HS) thì điều tất yếu là phải rèn luyện được hệ thống kĩ năng GQVĐ cho HS đến khi HS thể hiện được mức độ tinh vi, thành thạo khi thực hiện các kĩ năng đó. Đồng thời, phải tạo được động cơ, hứng thú cho HS trong suốt quá trình rèn luyện và phấn đấu. CNTT là một trong những công cụ hỗ trợ đắc lực nhất trong dạy học, nổi bật nhất chính là máy vi tính và nguồn tài nguyên khổng lồ trên Internet [5], [6], [7]. Việc sử dụng những tư liệu dạy học từ Internet không chỉ góp phần làm phong phú thêm nội dung dạy học mà còn có tác dụng tạo hứng thú học tập, phát huy tính tích cực, góp phần phát 
triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh (HS).
 
Đối với giáo viên (GV), vai trò của Internet hỗ trợ quá trình dạy học nói chung và dạy học theo định hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho HS nói riêng, được thể hiện thông qua việc: 

- Giúp GV tìm kiếm những nguồn tư liệu, phần mềm dạy học hữu ích có sẵn trên Internet; 

- Giúp GV lưu trữ, chia sẻ nguồn tư liệu, phần mềm dạy học theo các mục đích cụ thể;
 
- Gợi ý cho GV sử dụng nguồn tư liệu để dạy học một cách hiệu quả. 

Đối với HS, Internet là nơi chứa lượng thông tin khổng lồ, nhưng cũng là nơi chứa đựng nhiều cám dỗ. Do đó, nếu không được định hướng rõ ràng về mục tiêu tìm kiếm, HS rất dễ đi “lạc” khi khai thác thông tin trên Internet. Lúc này, GV cần có những định hướng rõ ràng, quan trọng đối với HS trong quá trình tìm hiểu, giải quyết các vấn đề học tập. Quá trình sử dụng Internet giải quyết các nhiệm vụ học tập có thể được thực hiện ngay tại lớp học, hoặc ở nhà, dưới sự hướng dẫn của GV thông qua 
các nhiệm vụ học tập cụ thể.
 
Trên cơ sở phân tích nội dung và các giai đoạn của quá trình dạy học, vai trò của Internet đối với quá trình phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho HS được khai thác thông qua: 

- Vai trò của Internet hỗ trợ dạy học các đơn vị kiến thức; 

- Vai trò của Internet hỗ trợ các giai đoạn của tiến trình dạy học.
 
Kết hợp với các phương tiện dạy học khác, Internet là một phương tiện hỗ trợ đắc lực được GV nâng cao hiệu quả dạy học, cũng như phát triển năng lực GQVĐ cho HS.

2.2. Vai trò của Internet hỗ  trợ dạy học các đơn vị kiến thức 
 
2.2.1. Khai thác và sử dụng các mô phỏng  

Các kiến thức khoa học tự nhiên trong chương trình phổ thông đa phần được rút ra từ thực nghiệm. Tuy nhiên, không phải quá trình nào xảy ra trong tự nhiên đều dễ quan sát trực tiếp. Một số quá trình xảy ra trong tự nhiên lại không thể quan sát bằng mắt thường vì diễn biến của các quá trình này xảy ra quá nhanh hoặc quá chậm. Điều đó gây khó khăn trong việc nghiên cứu tìm ra quy luật của chúng. 

Một trong các biện pháp có thể hỗ trợ cho việc nghiên cứu các quá trình đó là sử dụng các mô phỏng. Thông qua mô phỏng, các quá trình sẽ được lí tưởng hoá, cũng như tuỳ chỉnh tốc độ diễn ra một cách dễ dàng. Ngoài ra, những mô phỏng này còn hiển thị các kết quả tính toán, xử lí số liệu mà điều kiện bình thường khó có thể tiến hành. Do đó, tạo điều kiện cho HS phát hiện các vấn đề tồn tại và dễ dàng định hướng các cách giải quyết.

Để có thể tự xây dựng các mô phỏng, không phải là không thể đối với GV. Nhưng để thuận tiện và tiết kiệm thời gian, Internet chính là nơi cung cấp đa dạng và chính xác các mô phỏng này. Thông qua Internet, GV dễ dàng khai thác các mô phỏng, và lựa chọn để sử dụng trong dạy học một cách chủ động, phù hợp với mục tiêu bài học. Trong số các website cung cấp miễn phí các mô phỏng, thì PhET là một địa chỉ được GV khoa học tự nhiên thường xuyên sử dụng. 

Hình 1. PhET - mô phỏng trực tuyến và miễn phí về khoa học tự nhiên. 

2.2.2. Khai thác và sử dụng các phim thí nghiệm

Thí nghiệm là nhân tố đặc biệt quan trọng trong dạy học các môn khoa học tự nhiên. Tuy nhiên, việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học hiện hay gặp phải rất nhiều khó khăn. Có những thí nghiệm nguy hiểm, không thể tiến hành trong lớp học; hoặc có những thí nghiệm có thể tiến hành thành công trong lớp học thì lại rất khó quan sát. Do đó, các đoạn phim quay lại các thí nghiệm thực - còn được gọi là phim thí nghiệm - sẽ là giải pháp hiệu quả để khắc phục những khó khăn này.

Khi sử dụng phim thí nghiệm, GV có thể tuỳ chỉnh tốc độ nhanh, chậm, phóng to, thu nhỏ, tạm dừng... giúp HS dễ dàng phân tích, phát hiện các vấn đề tiềm ẩn.  Để không mất thời gian tự làm thí nghiệm và quay phim lại, GV có thể dễ dàng tìm kiếm phim thí nghiệm từ các công cụ tìm kiếm trên Internet. Sau khi tìm kiếm, GV có thể download phim thí nghiệm, hoặc sử dụng trực tuyến nếu trường học có hỗ trợ kết nối mạng. Youtube là nơi có nhiều kênh về phim thí nghiệm đầy đủ các chủ đề. Do đó, tạo điều kiện cho GV khai thác và sử dụng phim thí nghiệm trong dạy học các môn khoa học tự nhiên.

Hình 2. Kho phim thí nghiệm miễn phí trên Youtube.

2.3. Vai trò của Internet hỗ trợ các giai đoạn của quá trình dạy học
 
Theo lí luận dạy học hiện đại thì một quá trình dạy học nói chung hay một quá trình dạy học cơ sở (một tiết dạy trên lớp) gồm các giai đoạn: củng cố trình độ kiến thức xuất phát cho HS; xây dựng kiến thức mới; ôn luyện và vận dụng kiến thức; tổng kết, hệ thống hóa kiến thức; kiểm tra đánh giá trình độ kiến thức và các kĩ năng của HS. Internet hỗ trợ các giai đoạn của quá trình dạy học có thể là trực tuyến (online) nếu trường học được trang bị hệ thống mạng, hoặc có thể do GV download các tư liệu dạy học từ Internet để sử dụng ngoại tuyến (offline). 

2.3.1. Vai trò của Internet trong giai đoạn củng cố kiến thức cũ và đặt vấn đề mới 

Bất kì một tiết học nào, khi muốn dẫn dắt đến vấn đề thì GV phải tìm cách mở đầu bài học hướng HS đến nội dung chính của bài học. Cách mở đầu một bài học có thể là một thí nghiệm, có thể là một câu chuyện, cũng có thể là một sự liên hệ của bài học trước… Vấn đề cơ bản là GV phải lôi cuốn được người học ngay từ đầu, tạo ra sự hưng phấn, tính tò mò cho HS ngay từ những giây phút đầu tiên của tiết học. Với việc sử dụng Internet, cách mở đầu bài học đã có những thuận lợi nhất định. Trong giai đoạn này, GV có thể sử dụng Internet hỗ trợ trong việc tóm tắt kiến thức đã học từ bài trước, đưa ra các hình ảnh, các đoạn phim về các hiện tượng tự nhiên một cách trực quan và yêu cầu HS giải thích các hiện tượng đó. GV cũng có thể sử dụng Internet hỗ trợ trong việc đưa ra các hiện tượng mới cần nghiên cứu, đặt ra những tình huống có vấn đề đối với HS. Mặc dù trong giai đoạn này, thời gian sử dụng Internet là không nhiều, nhưng hiệu quả lại rất cao. Vì chỉ với một thời lượng ngắn ngủi, có thể truyền tải được lượng thông tin khá nhiều và hình thức truyền tải thông tin là khá hấp dẫn đối với HS, có thể đặt HS vào một trạng thái tập trung cao độ, chuẩn bị tốt cho các giai đoạn tiếp theo của tiết học. 

2.3.2. Vai trò của Internet trong giai đoạn nghiên cứu giải quyết vấn đề 

Có thể nói, Internet có vai trò quan trọng trong giai đoạn xây dựng kiến thức mới. Việc sử dụng Internet hợp lí trong giai đoạn này sẽ mang lại những hiệu quả rất cao. Bằng việc sử dụng những phần mềm mô phỏng hay minh họa các hiện tượng, các quá trình, kết hợp các phương pháp đàm thoại, HS dễ dàng nhận biết, so sánh và phân tích các hiện tượng. Việc tiến hành các thí nghiệm với sự hỗ trợ của Internet sẽ vừa là nguồn cung cấp các kiến thức, vừa là phương tiện để cung cấp những kiến thức mới. Thông tin dưới dạng văn bản (kênh chữ), hình ảnh đồ họa, phim video (kênh hình), và âm thanh xuất hiện trên màn hình chính là những đối tượng cần tìm hiểu, nghiên cứu mà HS có thể thu nhận, phân tích và xử lí tốt hơn. Các dữ liệu trên Internet hỗ trợ tốt cho các hoạt động quan sát, mô tả của HS, dẫn đến sự hình thành những biểu tượng hay quan niệm mới về vấn đề đang nghiên cứu. Đây cũng là hình thức hữu hiệu, tạo điều kiện để tư duy HS phát triển theo hướng khái quát hóa, quy nạp, từ đó xây dựng kiến thức mới một cách chắc chắn. 

Ngoài ra, việc mô phỏng, minh họa các hiện tượng hay quá trình trên Internet còn làm nổi rõ mối quan hệ giữa các sự kiện đang khảo sát với các sự kiện đã biết, từ đó có thể dẫn dắt tư duy phát triển theo hướng suy lí, diễn dịch để đi đến kiến thức mới. 

2.3.3. Vai trò của Internet  trong giai đoạn củng cố và vận dụng kiến thức 

Việc sử dụng Internet trong tổng kết và hệ thống hóa tri thức sẽ có nhiều thuận lợi [5]. Có thể sử dụng phần mềm để xây dựng chương trình tổng kết, hệ thống hóa tri thức theo từng module. Chương trình có thể điều khiển tiến trình tổng kết, đảm bảo việc hệ thống hóa có tính  logic cao về mặt nội dung. Với phần mềm ôn tập thì HS có thể lựa chọn nội dung ôn tập từ hệ thống bảng chọn (menu) của chương trình. HS có thể lặp lại quá trình ôn tập với số lần thích hợp không hạn chế và dễ dàng chuyển đổi giữa các nội dung khác nhau.

 2.3.4. Vai trò của Internet trong giai đoạn kiểm tra, đánh giá
 
Trên Internet luôn có những chương trình phù hợp trong việc giám sát chất lượng học tập của HS. Sử dụng Internet làm công tác kiểm tra, đánh giá sẽ giảm đi rất nhiều thời gian nhờ khả năng thống kê và xử lí kết quả nhanh chóng của hệ thống. Ngoài khả năng cho biết nhanh chóng kết quả đánh giá, thì tính khách quan, tính chính xác của các kết quả xử lí bằng Internet, khả năng cho phép thực hiện việc kiểm tra, đánh giá trên nhiều nội dung kiến thức bằng các loại câu trắc nghiệm đa dạng khác nhau là đặc tính riêng của Internet.
       
Biết tận dụng những khả năng này của Internet trong việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS, thì GV có thể chủ động củng cố kiến thức cho HS ở bất kì thời điểm nào trong quá trình dạy học. Đồng thời, HS có thể tiến hành nhiệm vụ kiểm tra, đánh giá tại nhà khi sử dụng Internet theo kế hoạch cụ thể đã được GV phân công.
 
Học tập với Internet sẽ giáo dục cho các em lòng say mê khoa học, hiểu được khả năng sáng tạo vô tận của con người, hình thành ở HS niềm tin vào khả năng lao động, ý nghĩa tốt đẹp của lao động sáng tạo; là kho tàng kiến thức vô tận mà các em có thể tìm kiếm bất cứ lúc nào, ở đâu khi máy vi tính đã được kết nối với mạng Internet. 

Với các cách khác nhau, trong từng giai đoạn khác nhau, Internet có những vai trò hỗ trợ khác nhau. Nhưng nhìn chung, sự hỗ trợ của Internet trong các giai đoạn của quá trình dạy học là hết sức cần thiết và nhờ có nó mà chất lượng dạy học được nâng cao. 

2.4. Một số biện pháp sử dụng Internet trong dạy học theo định hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề 

Biện pháp 1: Sử dụng Internet góp phần định hướng HS huy động tri thức, tiếp cận, nhận biết các tình huống có vấn đề. 

Rèn luyện kĩ năng phát hiện vấn đề cho HS thông qua việc định hướng cho HS huy động tri thức để tiếp cận, khai thác các tình huống có vấn đề, tiến tới nhận biết, phát hiện ra các biểu hiện trực quan có liên quan đến vấn đề.
 
Theo Triết học duy vật biện chứng, mâu thuẫn là động lực thúc đẩy sự phát triển. Mâu thuẫn ở đây là mâu thuẫn giữa một bên là trình độ hiểu biết đang có, bên kia là nhiệm vụ mới cần được giải quyết. Để giải quyết được nhiệm vụ nhận thức mới, khắc phục được mâu thuẫn trên thì phải xây dựng kiến thức mới, phương pháp mới, kĩ năng mới. Trong dạy học, việc tạo ra tình huống có vấn đề chính là tạo ra hoàn cảnh để HS tự ý thức được vấn đề cần giải quyết, có nhu cầu hứng thú GQVĐ, biết được mình cần phải làm gì và sơ bộ xác định được làm như thế nào. Như vậy “vấn đề” ở đây vừa là đối tượng vừa là động lực thúc đẩy hoạt động GQVĐ.

Do đó, để rèn luyện kĩ năng phát hiện vấn đề cho HS thì điều tất yếu là phải đặt HS vào hoàn cảnh cụ thể có liên quan đến vấn đề mà HS cần giải quyết, tạo điều kiện cho HS trực tiếp tham gia vào hoạt động phát hiện và GQVĐ. Trong dạy học, việc tổ chức tình huống có vấn đề chính là tạo ra hoàn cảnh để HS tự ý thức được vấn đề cần giải quyết, có nhu cầu hứng thú giải quyết, biết được mình cần phải làm gì và sơ bộ xác định được làm như thế nào. Hay nói cách khác, việc đặt HS vào tình huống có vấn đề chính là tạo ra hoàn cảnh để HS rèn luyện kĩ năng phát hiện vấn đề.
 
Để sử dụng hiệu quả các tài nguyên trên Internet vào dạy học giúp HS phát hiện ra vấn đề một cách nhanh chóng và dễ dàng, GV cần định hướng cho HS thực hiện theo các bước sau: 

- Sử dụng Internet tái hiện các kiến thức cũ có liên quan; yêu cầu HS nêu lại các kết luận, quy tắc, định 
luật… đã học hoặc yêu cầu HS dự đoán hiện tượng xảy ra theo kinh nghiệm mà HS đã biết trước đó; 

- Tăng cường cho HS quan sát các sự vật, hiện tượng thông qua các kết quả thí nghiệm hoặc qua các đoạn video trên Internet ghi lại các hiện tượng thực tế mà những hiện tượng này mâu thuẫn hoặc trái hẳn với kết luận, dự đoán của HS vừa nêu giúp HS nhận ra các biểu hiện trực quan liên quan đến vấn đề; 

- Gợi ý để HS phát hiện ra mâu thuẫn giữa sự vật, hiện tượng vừa quan sát với vốn kiến thức mà HS đã có trước đó. Khi HS xác định được mâu thuẫn từ tình huống chính là HS đã phát hiện được vấn đề cần nghiên cứu. Việc phát hiện, làm rõ mâu thuẫn từ tình huống có vấn đề sẽ kích thích hứng thú của HS, dẫn tới sự “chuyển động” của những tri thức mà HS đã có trước đây vào nhu cầu tìm tòi “cái chưa biết”, tạo điều kiện thuận lợi cho GV điều khiển HS phân tích tình huống, tiếp nhận và giới hạn vấn đề cần giải quyết.
 
Ví dụ: Sử dụng Internet góp phần định hướng HS vận dụng tri thức, tiếp cận, nhận biết các tình huống có vấn đề liên quan đến “Mắt”. GV có thể cho HS quan sát video về thực trạng liên quan đến các tật của mắt… Đây là một vấn đề phổ biến trong thực tiễn, nhưng lại rất khó để HS hình dung ra vấn đề. Do đó, sử dụng Internet khai thác tài nguyên dạy học trong trường hợp này là rất cần thiết. 

Hình 3. Các tật của mắt. 

Thông qua các video này, HS sẽ phát hiện ra vấn đề và tiến hành phân tích các yếu tố liên quan để phát biểu chính xác vấn đề cần giải quyết. 

Biện pháp 2: Sử dụng Internet góp phần định hướng HS phân tích thông tin, vấn đề và đề xuất các giả thuyết,chiến lược giải quyết vấn đề 

Để phát triển năng lực GQVĐ thì GV phải cung cấp cho HS đầy đủ các dữ kiện có liên quan đến vấn đề nghiên cứu để HS có cái nhìn tổng quát về sự vật hiện tượng liên quan đến vấn đề. Trên cơ sở đó, HS thu thập, sắp xếp, phân tích và đánh giá thông tin liên quan đến các sự vật hiện tượng riêng lẻ. HS sẽ phát hiện ra được điểm chung giữa các sự vật hiện tượng hay nguyên nhân mấu chốt của vấn đề. Từ
đó, HS sẽ kết nối các thông tin thu thập được để đề ra được chiến lược có thể GQVĐ một cách hiệu quả và tối ưu nhất 

Sử dụng Internet hỗ trợ HS giải quyết được vấn đề GV cần định hướng cho HS:
 
- Thu thập, sắp xếp, đánh giá tất cả các thông tin, dữ kiện có liên quan đến vấn đề trên cơ sở quan sát các sự vật, hiện tượng một cách tổng thể, trên tất cả các mặt, các mối liên hệ (bên ngoài, bên trong, trực tiếp, gián tiếp);

 - Kết nối các thông tin, dữ kiện vừa thu thập với kiến thức đã có của HS để xác định nguyên nhân làm nảy sinh vấn đề (làm rõ mâu thuẫn); 

Để HS tiến hành thực hiện giải pháp tốt, GV sử dụng Internet như một công cụ định hướng, gợi ý cho HS vạch ra chiến lược, kế hoạch thực hiện việc GQVĐ, phân chia từng giai đoạn thời điểm để tiến hành thực hiện từng mục tiêu của giải pháp. 

Ví dụ: “Mắt” là một khái niệm rất gần gũi với tất cả HS. Tuy nhiên, khi nghiên cứu về cấu tạo quang học của mắt, GV cần sử dụng các mô phỏng hoặc đoạn video trên Internet. Những tài nguyên này được sắp xếp một cách có trật tự, mô tả đầy đủ và chính xác các thông tin liên quan. Những định hướng này sẽ góp phần cho HS phân tích thông tin và đề xuất các giả thuyết. 

Hình 4. Cấu tạo quang học của mắt.

Biện pháp 3: Sử dụng Internet góp phần định hướng HS  thực hiện kế  hoạch theo giải pháp đã đề  ra, điều chỉnh kế hoạch, thực hiện. 

Sau khi lựa chọn được phương pháp tối ưu, HS cần lập kế hoạch thực hiện giải pháp: tiến trình thực hiện, phân bổ, cách sử dụng các nguồn lực; từ đó thực hiện kế hoạch đề ra để tiến hành GQVĐ. 

Để thực hiện tốt giải pháp đã đề ra, quá trình hướng dẫn của GV có thể được hỗ trợ bằng cách sử dụng 
Internet giúp cho HS lên kế hoạch hoạt động chi tiết, cụ thể, tránh lãng phí thời gian, sức lực vào những công việc không liên quan đến vấn đề. Đồng thời, để đảm bảo việc thực hiện đúng mục tiêu đã đề ra, GV cần định hướng và giúp đỡ HS kịp thời lên kế hoạch và điều chỉnh kế hoạch hoạt động của nhóm sao cho phù hợp với vấn đề cần giải quyết và đồng thời tuỳ theo điều kiện thực tế hiện có của lớp học, trường học mà điều chỉnh, thay đổi kế hoạch  GQVĐ sao cho phù hợp nhất.
 
Từ những kết quả thu được, HS cần đối chiếu với mục tiêu ban đầu để đánh giá kết quả thực hiện. Nếu kết quả chưa phù hợp, cần tìm ra lí do để khắc phục, hoàn thiện vấn đề. Đồng thời, trên cơ sở các kết luận rút ra cho vấn đề vừa giải quyết, cần khái quát hóa lí thuyết, để áp dụng cho những vấn đề tương tự, rút kinh nghiệm cho những hoạt động tiếp theo.

Ví dụ: GV và HS có thể sử dụng các ứng dụng trực tuyến để trao đổi, điều chỉnh kế hoạch GQVĐ như: Google Docs, các mạng xã hội... Quá trình này có thể được tiến hành giữa các nhóm HS - HS và GV. Những góp ý này đặc biệt hiệu quả đối với các nhiệm vụ được giao từ trước. Thông qua trao đổi, góp ý, và điều chỉnh, HS sẽ xây dựng được kế hoạch thực hiện giải pháp một cách phù hợp. 

Biện pháp 4: Sử dụng Internet tạo động cơ, hứng thú,tăng cường sự tham gia tích cực của HS vào quá trình giải quyết vấn đề.
  
Một trong những bước quan trọng để người học GQVĐ là xác định, làm rõ bản chất vấn đề. Để xác định đúng bản chất của vấn đề, HS cần xác định, giải thích các thông tin liên quan đến vấn đề; từ đó định hướng được vấn đề cần nghiên cứu.
 
Hứng thú không phải là cái gì đó bẩm sinh, thiên hướng. Vì thế, GV cần phát huy hơn nữa vai trò của chính mình trong việc hỗ trợ và duy trì sự phát triển hứng thú nơi chủ thể người học.

Trong quá trình dạy học, GV có nhiều cách để giúp HS chủ động, hứng thú trong quá trình GQVĐ. Quá trình này đòi hỏi HS phải có sự tập trung, chủ động trong việc tiếp cận kiến thức. 

Việc tạo hứng thú và sự tập trung của HS trong quá trình GQVĐ là rất cần thiết. Tính trực quan và sinh động của các tài nguyên trên Internet luôn góp phần mạnh mẽ trong việc tạo động cơ, hứng thú học tập cho HS. Do đó, khi sử dụng hợp lí, đúng thời điểm thì Internet sẽ hỗ trợ hiệu quả cho HS trong việc phát hiện và giải quyết vấn đề.

Ví dụ: Để giảm bớt áp lực, giúp HS hứng thú hơn trong học tập, GV có thể cho HS quan sát các hiện tượng vĩ mô trong thực tế (quá trình chuyển động của các hành tinh, khám phá vũ trụ...). Đối với những nội dung kiến thức này, HS sẽ rất khó để hình dung trọn vẹn nếu không được hỗ trợ nhận thức bằng các tài nguyên trên Internet.
   
3. Kết luận 

Việc ứng dụng CNTT vào trong GD-ĐT đã tạo ra một sự chuyển biến rõ rệt trong quá trình đổi mới nội dung chương trình, phương pháp dạy học, việc học của HS và quá trình quản lí giáo dục. Việc khai thác và sử dụng mạng Internet trong dạy học GQVĐ thông qua sự tổ chức của GV giúp cho HS vừa nắm được tri thức mới, vừa nắm được phương pháp chiếm lĩnh tri thức mới. Các môn khoa học tự nhiên chứa đựng nhiều tiềm năng để bồi dưỡng và phát triển năng lực GQVĐ. Mỗi nhiệm vụ học tập có những đặc trưng riêng góp phần quan trọng trong việc bồi dưỡng năng lực GQVĐ cho HS. Đặc biệt, đối với các nội dung kiến thức gắn liền với thực tiễn, việc ứng dụng CNTT nói chung và việc khai thác và sử dụng mạng Internet nói riêng vào dạy học là một hướng đi thích hợp và mang tính cấp thiết. 

Trần Thị Ngọc Ánh, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế

Hồ Thị Thuý Hiền, Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên TP. Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế

(Tạp chí giáo dục) 

MKRdezign

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget