tháng 12 2020

Những thành tựu vượt bậc của công nghệ đã chứng minh khả năng làm thay đổi một cách cơ bản, thậm chí toàn diện phương thức sản suất, phương thức hoạt động của hầu hết các lĩnh vực kinh tế trong đó có giáo dục. Việc đẩy mạnh số hóa trong trường học được kỳ vọng sẽ tạo ra những phương thức giáo dục phi truyền thống, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của nền giáo dục, qua đó nâng cao chất lượng đào tạo của giáo viên cũng như khả năng thích ứng công nghệ của các thế hệ học sinh ngay từ trên ghế nhà trường.

Những năm qua, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động giáo dục đã được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm phát triển ngành Giáo dục và Đào tạo. Quyết định số 117/QĐ-TTg ngày 25/01/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy - học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cáo chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2025” (Đề án 117) đã tạo được nhiều chuyển biến tích cực. Việc số hóa các hoạt động dạy - học và quản lý trong nhà trường đã đem lại nhiều tín hiệu đáng mừng.

Sự bùng nổ của Cuộc cách mạng 4.0 đã đặt ra những yêu cầu tất yếu về xu thế tất yếu phải xây dựng nền giáo dục trong thời đại 4.0. Có thể nói, giáo dục 4.0 có sự thay đổi lớn trong mục tiêu và cách thức đào tạo, chuyển từ truyền thụ kiến thức cho số đông sang khai phóng tiềm năng, thúc đẩy sự sáng tạo, tính độc lập, chủ động trong học sinh sinh viên. Bằng việc số hóa các phương thức truyền thống, nhiều trường học trên cả nước đã triển khai ứng dụng sổ liên lạc điện tử, sổ điểm điện tử, học bạ điện tử, giáo án điện tử, bài giảng điện tử, sách điện tử, ứng dụng quản lý điểm danh học sinh, lớp học ảo…


Nhờ đó, ngành Giáo dục và Đào tạo đã, đang có những chuyển biến mạnh mẽ trên cơ sở ứng dụng các công nghệ thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Điển hình là việc ứng dụng big data khi xây dựng cơ sở dữ liệu của ngành nhằm hệ thống thống nhất quản lý bằng việc số hóa thông tin của gần 53 nghìn trường học từ mầm non đến trung học phổ thông với gần 25 triệu học sinh và khoảng 1,5 triệu cán bộ, giáo viên, nhân viên trong ngành thông qua mã định danh. Bước đi này cũng được coi là nền tảng dữ liệu số hóa quan trọng để ngành triển khai đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp Chính phủ điện tử, hướng đến vận hành theo mô hình Chính phủ số đến năm 2025.

Bên cạnh đó, các trường học trên cả nước đang từng bước đưa công nghệ, số hóa để thay đổi phương thức giảng dạy, làm sinh động hơn các bài giảng trên lớp. Điển hình trong giai đoạn cả nước thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch bệch Covid-19 từ đầu năm, việc chuyển đổi số trong các hoạt động dạy học và kiểm tra đánh giá thông qua hình thức trực tuyến đã giúp nhiều trường học trên cả nước đảm bảo được tiến độ và chương trình dạy - học giữa nhà trường và học sinh. Với những hiệu quả đạt được, ngành Giáo dục và đào tạo đã tập trung xây dựng và nhanh chóng ban hành các quy định về mô hình dạy học trực tuyến trong trường học, kèm theo các hướng dẫn về quy trình tổ chức cũng như khung quy chế quản lý tổ chức dạy học trực tuyến; qua đó tạo hành lang pháp lý, hướng dẫn cụ thể để các địa phương phối hợp với nhà trường tổ chức triển khai phương thức dạy học trực tuyến đi vào thực chất và hiệu quả hơn.

Phương tiện truyền đạt bài giảng hiện nay cũng có sự tác động không nhỏ của công nghệ. Học sinh được tiếp cận qua nhiều cách thức hơn với các bài giảng thông qua các thiết bị công nghệ hiện đại như máy chiếu, máy tính, các mô hình công nghệ, các chương trình học ứng dụng công nghệ trực quan như STEM, Robotics… Môn Tin học cũng trở thành môn học bắt buộc đối với học sinh từ lớp 3, trong đó, một trong những nội dung chính của môn học là khoa học máy tính với nhiều công nghệ mới của Cách mạng công nghiệp 4.0 được lồng ghép với mục tiêu hình thành kỹ năng số trong mỗi học sinh.

Một trong những thành tựu đáng kể góp phần đẩy mạnh chuyển đổi số trong nhà trường đó là kho bài giảng điện tử E-Learning được Bộ Giáo dục và Đạo tạo xây dựng từ năm 2010. Kho bài giảng E-Learning là nơi lưu trữ hệ thống hàng nghìn bài giảng theo từng chủ đề của các môn học từ lớp Nhà trẻ đến lớp 12 và các chủ đề Dư địa chí. Với mong muốn xây dựng nguồn tài nguyên giáo dục mở phục vụ dạy, học cả trong và ngoài nhà trường, góp phần đổi mới căn bản và toàn diện phương pháp giảng dạy, vì mục đích học tập suốt đời, mọi lúc, mọi nơi, kho bài giảng E-Learning tập hợp những bài giảng chất lương tốt nhất từ các giáo viên trong cả nước thông qua cuộc thi Quốc gia Thiết kế bài giảng E-Learning được tổ chức hàng năm phục vụ các nhà quản lý, giáo viên, học sinh và cả phụ huynh học sinh tham khảo.

Thêm vào đó, việc số hóa sổ sách, hồ sơ cũng chứng minh được tính hiệu quả cao khi không chỉ tiết kiệm chi phí mà còn giúp giáo viên có nhiều thời gian hơn cho việc nghiên cứu chuyên môn, nâng cao chất lượng giảng dạy. Việc ứng dụng sổ điểm điện tử, như SMAS, vnEdu, eNetViet, Pino, eSchool… như nhiều trường đang triển khai hiện nay mang lại khá nhiều tiện ích, cụ thể: Giúp phụ huynh được cập nhật kết quả học tập của con em nhanh chóng, kịp thời; đảm bảo sự tính xác và hạn chế tối đa tiêu cực về điểm số do mọi thao tác nhập, sửa điểm trên sổ điện tử đều được lưu vết và hiển thị; việc tính toán, đánh giá, xếp loại học sinh cũng nhanh chóng và tính chính xác cao. Hiệu trưởng các trường sẽ tiến hành kiểm tra sổ điểm, sau đó mới xuất sang học bạ điện tử nên đảm bảo tính chính xác và đúng kỳ hạn. Việc sử dụng học bạ điện tử giúp kết nối thông tin đầy đủ và kịp thời giữa lãnh đạo với nhà trường, nhà trường với phụ huynh và học sinh; giúp cán bộ quản lý các cấp nắm được tình hình dạy và học của các nhà trường kịp thời; mặt khác, sẽ góp phần giảm áp lực về hồ sơ, sổ sách cho giáo viên.

Ngoài ra, thay vì quản lý học sinh bằng sổ liên lạc giấy giữa nhà trường và gia đình, ngoài sổ liên lạc điện tử, giáo viên có thể kết nối với toàn bộ phụ huynh trong lớp thông qua các nhóm chat facebook, zalo… Qua đó, thông tin và tình hình học tập của học sinh được cập nhật nhanh chóng, kịp thời; giáo viên và phụ huynh cũng có thể tương tác bất cứ lúc nào để trao đổi tình hình học tập của con em.

Để thực hiện được những kỳ vọng với cuộc cách mạng số hóa toàn diện trong nhà trường cần có sự quyết tâm của các cấp quản lý nhà trường cùng những bước đi tiên phong trong cuộc chiến chuyển đổi số. Đội ngũ giáo viên cần phải thay đổi để có thể thích ứng, làm việc trong môi trường số. Bên cạnh đó cần thường xuyên trau dồi, bồi dưỡng nghiệp vụ, các kỹ năng ứng dụng công nghệ 4.0 và các công nghệ khác để hoàn thành tốt nhiệm vụ, chức trách của mình với tinh thần: Làm chủ được công nghệ, sử dụng công nghệ hiệu quả và không bị lạm dụng công nghệ.

Đứng trước những thành tựu to lớn có thể đạt được trong chuyển đổi số trong nhà trường, trên cơ sở thực hiện các chỉ thị, điều hành của Chính phủ, ngày 07/10/2020 vừa qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã gửi Văn bản số 4003/BGDĐT-CNTT gửi các Sở giáo dục và đào tạo trên cả nước hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ công nghệ thông tin năm học 2020-2021. Trong đó đặt ra 3 nhiệm vụ trọng tâm, cụ thể: Một là, triển khai có hiệu quả Chương trình chuyển đổi số quốc gia trong ngành Giáo dục; triển khai các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử theo Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 07/03/2019 của Chính phủ; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động giáo dục và đào tạo theo Quyết định số 117/QĐ-TTg ngày 25/01/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy - học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2025". Hai là, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện và khai thác hiệu quả cơ sở dữ liệu ngành về giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục đại học và giáo dục thường xuyên; triển khai kết nối liên thông dữ liệu, tích hợp các hệ thống thông tin vào cơ sở dữ liệu ngành. Ba là, tăng cường ứng dụng CNTT trong đổi mới nội dung, phương pháp dạy, học, thi và kiểm tra đánh giá, quản lý giáo dục, quản trị nhà trường; áp dụng dạy, học trực tuyến; phát triển kho học liệu số toàn ngành, ngân hàng câu hỏi trực tuyến dùng chung, kho bài giảng e-learning kết nối với Hệ tri thức Việt số hóa.

Minh Hà (Công nghệ và đời sống)

Ngày 23 tháng 12 năm 2020, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lang Sơn tổ chức Hội nghị tập huấn trực tuyến sử dụng ứng dụng An toàn Covid-19 và việc xây dựng xơ sở dữ liệu ngành.


Tại hội nghị, đại diện Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lạng Sơn đã đánh giá lại việc đánh giá mức độ an toàn trên bản đồ, ứng dụng An toàn Covid-19 của các đơn vị.

Nhìn chung, 81% đơn vị chưa đạt mặc dù đã có hướng dẫn gửi về theo đường email từ trước. Nhiều đơn vị chưa cài đặt. Một số đơn vị đánh giá những qua loa, ghi điểm tên trường chưa rõ ràng, bỏ sót một số tiêu chí.

Cũng tại hội nghị, chuyên viên phụ trách công nghệ đã hướng dẫn các điểm cầu cách tải và cài đặt ứng dụng và quy trình thực hiện đánh giá trên ứng dụng.

Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh trực tiếp tục chỉ đạo, đánh giá công tác cập nhật thông tin lên cơ sở dữ liệu ngành, trực tiếp hỗ trợ các đơn vị trong quá trình xây dựng.




Như vậy chúng ta đã thấy từ các phần trên, không chỉ có Việt Nam, mà trong tất cả các chương trình môn Tin học phổ thông của nhiều quốc gia trên thế giới, phân môn Khoa học máy tính đã được đưa vào như một nội dung bắt buộc

Đây thực sự là một cuộc cách mạng về giáo dục Tin học trên qui mô toàn thế giới. Chúng ta cùng điểm qua quá trình lịch sử phát triển của việc giảng dạy khoa học máy tính như thế nào.

1945. Ra đời máy tính điện tử, ra đời ngành CNTT, khoa học máy tính.

1970x. Xuất hiện các máy tính mainframe, nhỏ hơn nhiều so với những chiếc máy tính thế hệ đầu tiên. Ngành Khoa học máy tính, CNTT chính thức được hình thành và giảng dạy trong các trường đại học.

1980. Máy tính cá nhân (PC) ra đời, đưa các ứng dụng của CNTT đến từng gia đình. Lần đầu tiên môn Tin học (chỉ bao gồm học các ứng dụng) được đưa xuống nhà trường cho học sinh các lớp cuối cấp.

1990-2000. Bùng nổ Internet các ứng dụng mạng trên qui mô toàn cầu. Môn Tin học được đưa xuống cấp 1, nhưng chỉ dừng lại ở việc học các ứng dụng cụ thể, rời rạc.


2005-7. Xuất hiện điện thoại thông minh, sau đó là các ứng ụng IoT, len lỏi vào khắp các ngành công nghiệp và dịch vụ. Xuất hiện các khoa học mới như tự động hóa, khoa học dữ liệu, trí tuệ nhân tạo có ứng dụng cụ thể hàng ngày. CMCN 4.0 xuất hiện.

2010-2016. Xuất hiện các ngôn ngữ lập trình trực quan, lập trình kéo thả, ví dụ Scratch. Cơ hội để đưa phân môn Khoa học máy tính xuống dạy cho học sinh từ cấp Tiểu học.

Như vậy Ngôn ngữ lập trình trực quan, ví dụ như Scratch, đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển của môn Tin học. Có thể so sánh đây là 1 cuộc cách mạng lớn về giáo dục, lần đầu tiên, học sinh có thể học lập trình, tư duy máy tính, thuật toán, khoa học máy tính ngay từ lớp 1.

Có thể nói chính việc ra đời các ngôn ngữ lập trình đơn giản, trực quan, kéo thả dành riêng cho học sinh nhỏ tuổi là tác nhân chính để có thể đưa việc dạy kiến thức lõi của Tin học xuống nhà trường phổ thông, từ cấp Tiểu học.

Định hướng Khoa học máy tính (CS) sẽ là trọng tâm của môn Tin học mới vì các lý do rõ ràng sau:

- Với CS thì Tin học giờ đây trở thành một môn học với các ý tưởng, quan niệm thống nhất, chặt chẽ, logic của một môn học khoa học hoàn chỉnh. Không có yếu tố CS, Tin học không thể có điều này.

- Với CS và lõi của nó là lập trình, giờ đây Tin học là tập hợp các kỹ thuật, kỹ năng logic chặt chẽ, có phát triển từ thấp đến cao. Ví dụ kỹ thuật lập trình, thuật toán, kiểm thử, sửa lỗi chương trình.

-  Môn Tin học cùng với CS giờ đây sẽ có một hệ thống tư duy độc lập, riêng biệt của môn học này, khác biệt với tất cả các môn học khác. Ví dụ tư duy máy tính, tư duy thuật toán, tư duy giải quyết vấn đề.

- Môn Tin học với lõi CS của nó sẽ có tính chất bền vững với thời gian. Chú ý rằng tính chất này không đúng với IT vì công nghệ phát triển rất nhanh nên không thể có 1 hệ thống nào bền vững với thời gian.

- Nội dung CS có tính Hệ thống và độc lập với công nghệ, kỹ thuật cụ thể. Ví dụ hệ thống các ngôn ngữ lập trình, thuật toán, …. đều độc lập với kỹ thuật và công nghệ cụ thể.

Với những lý do trên có thể kết luận rằng phần kiến thức CS sẽ đóng vai trò chính, trọng tâm và nền tảng của môn Tin học trong nhà trường.


Bùi Việt Hà

Cần phân biệt và hiểu về quan hệ giữa 3 điểm chính của CTGDPT mới của môn Tin học: 5 cấu thành năng lực, 7 chủ đề kiến thức lõi và 3 mạch tri thức.

Trong phần 3 tôi đã trình bày về 3 điểm chính này của CTGDPT mới môn Tin học, đây chính là sự khác biệt lớn nhất của CT mới so với CT môn Tin học (cũ) hiện nay.

1) 5 cấu thành năng lực chính.

2) 3 mạch tri thức "hòa quyện" CS, IT, DL.

3) 7 chủ đề kiến thức lõi.

Trong phần này chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn quan hệ giữa 3 cấu thành quan trọng trên của CT môn Tin học mới.

Sơ đồ sau mô tả tổng quát các quan hệ đan xen và chồng chéo này của 3 khái niệm trên.


Chúng ta cần phân biệt rõ:

- 3 mạch tri thức CS, IT, DL là một sự phân loại đột phá của môn Tin học. Phân loại này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ và chính xác hơn bản chất, mục đích của môn khoa học Tin học trong trường phổ thông. Trong khi các kiến thức lõi khoa học máy tính (CS) sẽ đóng vai trò trung tâm, tạo nên một môn Tin học có tính logic khoa học chặt chẽ tương tự như các môn khoa học tự nhiên khác thì IT và DL lại là những cấu thành, tuy không có tính khoa học chặt chẽ, nhưng lại rất quan trọng và đặc thù của môn học này. IT sẽ định hướng đến những ứng dụng đa dạng, rộng khắp của CNTT trong cuộc sống, còn DL xác định các kỹ năng tối thiểu cần được học và rèn luyện của mỗi công dân trong xã hội hiện đại. Chú ý rằng 3 mạch tri thức này được xác định độc lập hoàn toàn với các thành tố năng lực của chương trình.

- 5 thành tố năng lực của môn Tin học là các yêu cầu đầu ra tối thiểu của mỗi học sinh khi học xong môn Tin học. Các thành tố này được xác định độc lập với 3 mạch tri thức CS, IT và DL. Tuy nhiên nếu nhìn vào các yếu tố năng lực này sẽ thấy ngay quan hệ giữa chúng với các mạch tri thức này. Trong sơ đồ trên tôi dùng màu sắc để mô tả các quan hệ đó.

-  Cuối cùng là 7 chủ đề kiến thức lõi. Các chủ đề kiến thức này, một mặt được thiết kế xuất phát từ mục tiêu môn học (3 mạch CS, IT, DL) và 5 thành tố yêu cầu năng lực, mặt khác chúng là những kiến thức lõi quan trọng nhất của môn Tin học. Mỗi chủ đề lõi này đều có liên quan đến các mạch tri thức và các yếu tố năng lực tương ứng. Các GV cần nắm vững điều này khi tiếp cận chương trình.

Bùi Việt Hà

Trong phần này chúng ta sẽ điểm nhanh một số chương trình môn Tin học mới của một số quốc gia đã thay đổi như thế nào trong thời gian gần đây. Như tôi đã nói trong phần đầu của bài viết, có một sự trùng lặp rất thú vị là đúng vào thời điểm Bộ GD&ĐT Việt Nam tiến hành thay đổi CTGDPT mới thì trên qui mô toàn thế giới cũng đang diễn ra một cuộc cách mạng về giáo dục, đặc biệt là Tin học. Đang có 1 xu thế không thể cưỡng lại là tất cả các nước trên thế giới đều thay đổi chương trình giáo dục sang định hướng năng lực và môn Tin học đã được thay đổi tận gốc bằng cách đưa các kiến thức lõi của khoa học máy tính, lập trình xuống phổ thông từ cấp Tiểu học.

Việc tìm hiểu chương trình môn Tin học của các nước khác là rất cần thiết. Chúng ta sẽ thấy và hiểu được các chuyên gia giáo dục của các nước đó suy nghĩ và thiết kế chương trình môn Tin học như thế nào, họ có điểm gí tương tự và khác biệt so với Việt Nam.

Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu 3 quốc gia điển hình là Anh, Mỹ và Singapore.

1. Anh quốc

Anh là quốc gia đi đầu trong việc đổi mới hoàn toàn môn Tin học, đổi mới toàn diện chương trình đào tạo và cách dạy môn học này trong nhà trường. Ngay từ năm 2011, trong bản báo cáo "Shutdown or restart", "Kết thúc hay bắt đầu lại từ đầu", [11], các nhà giáo dục Anh quốc đã lần đầu tiên đề nghị xóa bỏ hoàn toàn chương trình giáo dục môn Tin học hiện có và xây dựng lại mới hoàn toàn dựa trên việc phân tích kiến thức Tin học thành 3 mạch CS, IT và DL. Theo tôi được biết, các nhà vạch định chương trình GDPT mới môn Tin học của Việt Nam đã được kích thích và lấy ý tưởng rất lớn từ chương trình môn Tin học của nước Anh. Chương trình khung môn Tin học của Anh quốc chính thức ra đời năm 2014 với sự thay đổi đột phá đưa việc dạy lập trình trực quan kéo thả (ví dụ Scratch) cho học sinh ngay từ lớp 1.

Sau đây là toàn bộ chương trình khung môn Tin học của nước Anh, được xây dựng dưa trên 3 mạch chính: CS, IT, DL và là chương trình hoàn toàn dựa trên các yêu cầu năng lực. Xem thêm các tài liệu [10], [12].

Nhóm

Tiểu học

THCS

THPT

CS

Hiểu thuật toán là gì. Hiểu cách áp dụng thuật toán như một chương trình trên máy tính. Hiểu được một chương trình chạy khi thực hiện chính xác một dãy các lệnh.

 

Tạo và sửa lỗi một chương trình đơn giản.

 

Có thể viết 1 chương trình không cần trên máy tính. (Có thể phân tích và phán đoán 1 chương trình sẽ chạy như thế nào).

Biết thiết kế, viết và chỉnh sửa chương trình nhằm thực hiện một mục đích nào đó, bao gồm cả các bài toán mô phỏng và kiểm soát các hệ thống vật lý. Biết cách phân rã bài toán lớn thành nhiều bài toán nhỏ hơn để giải quyết.

 

Biết cách dùng dãy các lệnh, lệnh chọn (rẽ nhánh) và lệnh lặp trong chương trình. Có thể làm việc với biến nhớ và thực hiện các thao tác vào / ra dữ liệu khác nhau.

 

Có thể phân tích và lý giải vì sao một thuật toán đơn giản là đúng hoặc có lỗi. Có thể tìm ra lỗi và sửa lỗi của thuật toán trong chương trình.

 

Hiểu được khái niệm mạng máy tính bao gồm Internet. Biết được mạng máy tính có thể cung cấp đồng thời nhiều dịch vụ, ví dụ WWW.

 

Đánh giá được các kết quả tìm kiếm bằng cách lựa chọn và phân loại.

Biết thiết kế và đánh giá trừu tượng hóa để làm mẫu mô tả trạng thái hoạt động của các bài toán thực tế và các hệ thống vật lý.

 

Hiểu được một số thuật toán cơ bản phản ánh được tư duy máy tính (ví dụ thuật toán sắp xếp, tìm kiếm). Có suy luận hợp lý để so sánh các thiết bị hoặc thuật toán áp dụng cho cùng một vấn đề.

 

Biết sử dụng 2 hoặc nhiều hơn ngôn ngữ lập trình, trong đó ít nhất có 1 ngôn ngữ bậc cao (dạng văn bản) để giải quyết các bài toán cần lập trình. Biết cách thiết lập hoặc sử dụng các mô hình cấu trúc dữ liệu (ví dụ dãy, bảng, mảng). Có thể thiết kế và cài đặt các chương trình phân lớp có sử dụng thủ tục hoặc hàm số.

 

Hiểu được các phép toán logic cơ bản (ví dụ AND, OR và NOT) và ứng dụng chúng vào các câu lệnh lập trình. Hiểu được các số có thể biểu diễn dưới dạng nhị phân và có thể thực hiện một số tính toán đơn giản trên các số nhị phân (ví dụ phép cộng nhị phân, biến đổi số từ nhị phân sang thập phân và ngược lại).

 

Hiểu được các cấu thành phần cứng và phần mềm tạo nên các hệ thống máy tính. Biểt được các cấu thành này trao đổi thông tin với nhau và với các hệ thống khác.

 

Hiểu được các lệnh được lưu và được chạy như thế nào trong máy tính. Hiểu được các kiểu dữ liệu khác nhau (ví dụ văn bản, âm thanh, hình ảnh) có thể được biểu diễn và điều khiển dưới dạng số nhị phân như thế nào.

IT

Có thể sử dụng công cụ để tạo ra, tổ chức, lưu trữ và chỉnh sửa một nội dung số.

Biết sử dụng công cụ tìm kiếm có hiệu quả.

 

Biết cách chọn, sử dụng một số phần mềm (bao gồm cả dịch vụ Internet) trên một số các thiết bị số để thiết kế và tạo ra các chương trình, hệ thống và nội dung số đáp ứng yêu cầu được đặt ra, trong đó bao gồm các bài toán lựa chọn, phân tích, đánh giá và biểu diễn thông tin và dữ liệu.

Có thể thực hiện các dự án sáng tạo, sử dụng các công cụ ứng dụng khác nhau, trên các thiết bị số đa dạng, để đạt được yêu cầu ở mức cao, bao gồm cả các bài toán tìm kiếm, phân tích dữ liệu thỏa mãn yêu cầu được đặt ra.

 

Có thể tạo ra, chỉnh sửa, sử dụng lại với mục đích khác các sản phẩm nội dung số, hướng đến một đối tượng nào đó, tập trung vào các yếu tố như thiết kế, độ tin cậy hay tính khả dụng.

DL

Nhận biết và sử dụng được những ứng dụng CNTT thường dùng trong và ngoài nhà trường.

 

Biết cách dùng công nghệ an toàn và thận trọng. Biết giữ kín thông tin cá nhân. Biết tìm đến sự trợ giúp khi gặp sự cố, vấn đề về thông tin và công cụ CNTT.

Hiểu được các ích lợi của mạng máy tính mang lại để trao đổi thông tin và hợp tác cùng làm việc.

 

Đánh giá được các nội dung số.

 

Biết cách sử dụng công nghệ một cách an toàn, cẩn thận, có trách nhiệm. Có thái độ phù hợp với thiết bị công nghệ. Xác định được các nội dung chấp nhận được / không chấp nhận được và biết cách thông báo về những nội dung đó.

Hiểu được các cách sử dụng thiết bị công nghệ một cách an toàn, phù hợp, có trách nhiệm và bảo mật, bao gồm cả việc bảo mật tính danh và thông tin cá nhân trực tuyến. Nhận biết được các thông tin phù hợp / không phù hợp và biết cách thông báo điều này cho ngưởi có trách nhiệm.


2. Mỹ

Mỹ cũng là quốc gia có những thay đổi lớn về chương trình môn Tin học trong nhà trường phổ thông. Các thay đổi này có từ những năm 2012 và đã được phê duyệt chính thức từ 2015. Tài liệu [19] đã mô tả chi tiết các mạch kiến thức chính của chương trình môn Tin học từ lớp 1 đến 12. Như vậy chương trình môn Tin học của Mỹ được mô tả theo các mạch kiến thức gần tương tự như CTGDPT mới môn Tin học của Việt Nam.

1. Các mức và nhóm kiến thức chính

Chương trình Tin học phổ thông của Mỹ được chia thành 3 mức chính, gần tương đương với cấp Tiểu học - THCS - THPT của Việt Nam. Khái quát các mức này được mô tả trong hình sau.


Toàn bộ các mạch kiến thức chính được chia thành 5 nhóm với tên gọi như sau.


2. Các mạch kiến thức chính

Sau đây là 23 mạch kiến thức được chia thành 5 nhóm chính. Các mạch kiến thức được thiết kê theo 2 cấp như sau:

1. Hợp tác

1.1. Sử dụng các công nghệ và tài nguyên để kết nối, hợp tác.

1.2. Máy tính như là chất xúc tác, điểm nhấn cho hợp tác.

2. Tư duy máy tính

2.1. Giải quyết vấn đề.

2.2. Thuật toán.

2.3. Biểu diễn dữ liệu.

2.4. Mô hình và mô phỏng (từ cấp THCS).

2.5. Trừu tượng hóa (từ cấp THCS).

2.6. Kết nối với các khoa học khác (từ cấp THCS).

3. Ứng dụng máy tính và Lập trình

3.1. Sử dụng công cụ, thiết bị CNTT để học.

3.2. Sử dụng công cụ, thiết bị CNTT để tạo ra các sản phẩm số.

3.3. Lập trình.

3.4. Tương tác với thông tin từ xa, trực tuyến (từ cấp THCS).

3.5. Nghề Tin học.

3.6. Lựa chọn, tìm kiếm và phân tích dữ liệu.

4. Máy tính và thiết bị

4.1. Máy tính, cấu trúc máy tính.

4.2. Sửa lỗi máy tính.

4.3. Mạng máy tính.

4.4. Máy tính và xã hội.

5. Cộng đồng, Xã hội và các vấn đề Đạo đức

5.1. Sử dụng máy tính, thiết bị có trách nhiệm.

5.2. Ảnh hưởng của công nghệ.

5.3. Tính chính xác của thông tin.

5.4. Các vấn đề đạo đức, luật pháp và bảo mật thông tin.

5.5. Tính công bằng, lợi, hại của thông tin.

Chú ý:

Các giáo viên có thể tham khảo và so sánh bảng mạch kiến thức này so với mô hình 7 mạch kiến thức chính của CTGDPT môn Tin học của Việt Nam.

3. Singapore

Singapore cũng đang tích cực tiến hành thay đổi cải tiến chương trình môn Tin học. Trong tài liệu [26] có một sơ đồ mô tả tổng thể hình ảnh phân loại kiến thức môn Tin học sẽ được đưa vào nhà trường phổ thông của Singapore. Ở Singapore việc áp dụng các chương trình mới được tiến hành một cách thận trọng, không mạnh tay như các nước Anh, Mỹ đã nói ở trên.

Mô hình phân loại kiến thức Tin học theo 3 lớp của Singapore được mô tả trong sơ đồ sau.


1. Lớp trong cùng bao gồm 3 nhóm chính: Máy tính - Công cụ; Máy tính - Khoa học và Máy tính - Xã hội.

2. Lớp giữa sẽ phân loại tiếp theo của 3 nhóm trên. Máy tính - Công cụ được chia thành 2 lớp con: Sử dụng máy tính và Sử dụng các chương trình, ứng dụng. Nhóm Máy tính - Khoa học cũng được chia thành 2 lớp con: Tư duy máy tính và Tư duy hệ thống. Nhóm Máy tính - Xã hội được chia thành 3 lớp con: An toàn, sử dụng có trách nhiệm; Đạo đức, văn hóa, luật bản quyền; Kỹ năng thế kỷ 21.

3. Lớp ngoài cùng là các chủ đề con được chia nhỏ hơn nữa.

Nếu bạn là người có quan sát kỹ và hiểu được các chương trình của các quốc gia Anh quốc, Mỹ và Singapore đã trình bày ở trên thì có thể rút ra được nhận xét là Chương trình môn Tin học trong CTGDPT mới của Việt Nam được lấy và kết hợp khá nhuần nhuyễn từ cả 3 chương trình này.


Bùi Việt Hà

Ngày mùng 4 tháng 12 năm 2020, Sở Khoa học và Công nghệ Lạng Sơn tổ chức Hội nghị tổng kết công tác tổ chức các cuộc thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2016 – 2020 và công tác hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo giai đoạn 2017-2020.

Đồng chí Nguyễn Long Hải, Phó Chủ tịch UBND phát biểu tại hội nghị.

Dự hội nghị có đồng chí Nguyễn Long Hải, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Tổ chức các cuộc thi sáng tạo kỹ thuật giai đoạn 2016- 2020, Trưởng Ban Tổ chức Cuộc thi khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Lạng Sơn; đại diện các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố; Thành viên Ban Tổ chức, Ban Thư ký các cuộc thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh; Ban Tổ chức Cuộc thi khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh; Các tác giả/ nhóm tác giả đoạt giải tại cuộc thi sáng tạo thanh thiếu niên nhi đồng tỉnh Lạng Sơn lần thứ 12 năm 2020; các tác giả/ nhóm tác giả đoạt giải tại cuộc thi khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh và đại diện các trường có tác giả đạt giải tại Cuộc thi và các thành phần khác liên quan.

Đồng chí Nguyễn Thị Hà, Giám Đốc Sở KH&CN phát biểu khai mạc Hội nghị.

Hội nghị được tổ chức nhằm tổng kết công tác tổ chức các cuộc thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2016 – 2020, đồng thời lồng ghép nội dung tổng kết công tác hỗ trợ hệ sinh thái Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2017 – 2020. Trong thời gian qua, các cuộc thi sáng tạo kỹ thuật trên địa bàn tỉnh là một hoạt động hữu ích, hỗ trợ tích cực cho việc vận dụng kiến thức, kĩ năng, phương pháp nghiên cứu khoa học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn. Đồng thời, góp phần khơi dậy, tập hợp và khích lệ nhiều đối tượng đa dạng ở các lứa tuổi khác nhau tham dự, trở thành sân chơi bổ ích, thúc đẩy phong trào thi đua học tập, lao động, sáng tạo khơi dậy tiểm năng và phát huy khả năng tư duy sáng tạo của các tầng lớp nhân dân trên địa bàn tỉnh; Công tác hỗ trợ hệ sinh thái Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo nhằm tạo lập môi trường thuận lợi để thúc đẩy, hỗ trợ quá trình hình thành và phát triển loại hình doanh nghiệp có khả năng tăng trưởng nhanh dựa trên khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới. Đến nay, bước đầu đã khuyến khích, thúc đẩy động lực, tinh thần khởi nghiệp đặc biệt là khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, tạo được sự lan tỏa về Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong các tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn; bước đầu tạo sự kết nối các yếu tố của hệ sinh thái KNĐMST: Ý tưởng KNĐMST, nhà đầu tư tiềm năng, nhà tư vấn, nhà quản lý, chính sách hỗ trợ…; tiếp cận dần với xu hướng khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của vùng, của quốc gia.

Tại Hội nghị, 10 tập thể và 12 cá nhân có thành tích trong công tác tổ chức các cuộc thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2016 – 2020 và công tác hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo giai đoạn 2017 – 2020 đã được Chủ tịch UBND tỉnh tặng bằng khen. Đồng thời, tại Hội nghị, các tập thể, cá nhân tích cực trong phong trào này cũng được Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ cũng tặng giấy khen.

Đồng chí Nguyễn Long Hải, Phó Chủ tịch UBND trao giải thưởng cho đại diện nhóm tác giả đạt giải nhất tại cuộc thi Sáng tạoTTNNĐ năm 2020.

Đồng chí Nguyễn Long Hải, Phó Chủ tịch UBND trao giải thưởng cho nhóm tác giả đạt giải nhất tại cuộc thi khởi nghiệp đổi mới sáng tạo năm 2020.

Tại hội nghị, Ban Tổ chức đã trao giải thưởng cho các tác giả, nhóm tác giả đạt giải tại các Cuộc thi. Trong đó: Dự án "Bình thụ phấn hoa Na" của nhóm giáo viên Trường TH&THCS xã Yên Sơn, huyện Hữu Lũng xuất sắc đạt giải nhất tại Cuộc thi khởi nghiệp đổi mới sáng tạo năm 2020; Sản phẩm "Thiết bị phòng tật cận thị khi ngồi học ở nhà" của nhóm học sinh Trường THPT Chuyên Chu Văn An xuất sắc đạt giải Nhất Cuộc thi sáng tạo thanh thiếu niên nhi đồng năm 2020.

Đồng chí Nguyễn Long Hải, Phó Chủ tịch UBND tỉnh trao bằng khen cho các tập thể, cá nhân.

Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh đánh giá kết quả đạt được, những hạn chế của công tác tổ chức các cuộc thi sáng tạo kỹ thuật giai đoạn 2016 - 2020 và công tác hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo giai đoạn 2017 - 2020. Đồng chí đã chúc mừng các tác giả, nhóm tác giải đạt giải tại các cuộc thi, đánh giá cao, ghi nhận và biểu dương sự cố gắng, nỗ lực của các cơ quan thành viên Ban Tổ chức, các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là Sở Khoa học và Công nghệ đã tích cực, chủ động, làm tốt vai trò của cơ quan thường trực trong tham mưu tổ chức các Cuộc thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh và công tác hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; Sở Giáo dục và Đào tạo đã thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phát động, thu hút nhiều học sinh các lứa tuổi tham gia hưởng ứng các Cuộc thi do tỉnh tổ chức. Đồng thời, đồng chí cũng giao nhiệm vụ cho các cơ quan, đơn vị trong thời gian tới tiếp tục tạo sự lan tỏa mạnh mẽ trong toàn tỉnh, đẩy mạnh thu hút sự tham gia của các tập thể, cá nhân đối với các cuộc thi sáng tạo kỹ thuật và công tác hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh.


Nguyễn Ngọc Hưng (Sở KH&CN Lạng Sơn)

MKRdezign

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget