tháng 1 2021

Theo cách nhìn nhận của tôi thì khi áp dụng chương trình môn Tin học mới, đa số các giáo viên Tin học như hiện nay sẽ gặp nhiều khó khăn, bỡ ngỡ.


Khó khăn không chỉ ở lượng kiến thức mới, mà còn ở rất nhiều khía cạnh khác liên quan đến chương trình, phương pháp sư phạm, tính mở, tính STEM, …

Vấn đề của câu hỏi này rất rộng, tôi chỉ nhấn mạnh một vài ý quan trọng sau:

1. Các giáo viên Tin học cần phải thay đổi hoàn toàn cách nhìn vào chính môn học của mình, đừng coi Tin học chỉ là "sửa chữa máy tính", "cài đặt phần mềm", "soạn thảo văn bản",… Hãy nhìn vào trọng tâm của Tin học: đó là môn học về khoa học máy tính.

2. Các giáo viên Tin học cũng cần phải thoát được cách nhìn cũ, chỉ nhìn thấy 1 Hệ điều hành Windows. Khi giảng dạy kiến thức cho học sinh cần có cách tiếp cận mở, không nên quá phụ thuộc vào 1 hệ điều hành cụ thể nào.


3. Khi giảng dạy, trình bày một phần mềm, công cụ, tránh sa đà vào tên, vị trí, thực đơn của các lệnh cụ thể, mà nên có cách nhìn hệ thống. Nên trình bày các lệnh theo chức năng logic để học sinh dễ tiếp thu hơn mà không phụ thuộc vào giao diện cụ thể của một phiên bản cụ thể nào.

4. Kỹ năng lập trình là yêu cầu bắt buộc của mỗi giáo viên đối với chương trình môn Tin học mới. Các giáo viên cần nhanh chóng học, tự học, tự tìm hiểu các môi trường lập trình kéo thả mới, ví dụ Scratch, các ngôn ngữ lập trình bậc cao đang phổ biến hiện nay như C++, Python, Java, JavaScript. Không cần biết rộng và nên biết thật tốt, sâu 1 ngôn ngữ lập trình mà mình mạnh nhất.

5. Yêu cầu đổi mới quan trọng của chương trình môn Tin học là lấy năng lực, kỹ năng hoàn thành công việc, kỹ năng giải quyết vấn đề làm chính. Tuyệt đối không bắt học sinh học thuộc lòng bất cứ kiến thức nào. Chú ý 2 điểm đặc biệt sau của các bài toán tin học:

- Hầu hết các bài toán tin học đều có nhiều cách, nhiều phương pháp, nhiều thuật toán để giải quyết. Do vậy cần kiểm tra kết quả cuối cùng để đánh giá. Không đánh giá qua các bước thực hiện (trừ các bài toán muốn kiểm tra kiến thức về các bước này).

- Các bài toán tin học đều có thể giải được (dù khó thế nào) nhưng với các mức độ hoàn thiện khác nhau. Ví dụ một lời giải có thể đúng với các input đơn giản nhưng sẽ không chạy hoặc giải sai với các input phức tạp khác.

Tóm lại là cần đánh giá bằng sự hoàn thiện của sản phẩm, chương trình.

6. Trong phân môn Khoa học máy tính, cần chú ý nhất đến khái niệm "Tư duy máy tính". Đây là khái niệm lõi của CS mà giáo viên cần trang bị cho học sinh, là khái niệm quan trọng nhất của mạch tri thức CS của chương trình. Có thể hiểu đơn giản Tư duy máy tính là cách mà học sinh cần hiểu và điều khiển được máy tính thực hiện, giải quyết các bài toán của môn học do giáo viên đưa ra.

Bùi Việt Hà

Việc dạy và học môn môn Tin học hiện đang được tiếp tục đẩy mạnh tại các trường tiểu học và đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Tỷ lệ học sinh tiểu học được học Tin học tăng lên qua từng năm học.


Tin học ở các trường tiểu học hiện đang được các địa phương tích cực, chủ động triển khai theo Hướng dẫn về tổ chức dạy môn Tin học và hoạt động giáo dục Tin học cấp tiểu học của Bộ GD-ĐT từ năm học 2019-2020. Các địa phương cũng đang tiếp tục đẩy mạnh tổ chức dạy môn Tin học tự chọn ở các trường tiểu học tổ chức dạy 2 buổi/ngày, đồng thời tăng số lượng trường, lớp, học sinh lớp 3, lớp 4, lớp 5 được học môn Tin học theo chương trình hiện hành.

Trong năm học vừa qua, tỷ lệ học sinh lớp 3, lớp 4, lớp 5 được học Tin học đạt hơn 71,2%, tăng so với năm học trước đạt 60,7%. Các tỉnh có tỷ lệ học sinh học Tin học cao gồm: Hà Nội, Lâm Đồng, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Định, Long An, Đà Nẵng, Quảng Bình, Vĩnh Long, Nam Định…

Cùng với tổ chức tốt việc dạy học môn Tin học cho học sinh lớp 3, 4, 5 theo quy định trong chương trình, nhiều địa phương đã có giải pháp tăng cường tổ chức các hoạt động giáo dục Tin học cho học sinh cấp tiểu học, nhằm giúp học sinh lớp 1, lớp 2 được làm quen với Tin học và đáp ứng sở thích, nhu cầu của các em, qua đó cũng phát hiện, bồi dưỡng năng lực tin học, tư duy khoa học máy tính, nuôi dưỡng đam mê về khoa học, công nghệ cho các em từ bậc học này. Một số địa phương có tỷ lệ cao học sinh lớp 1, lớp 2 được tham gia hoạt động giáo dục Tin học là: Thái Bình, đạt 64,68%; TP Hồ Chí Minh, đạt 47,85%; Đăk Nông, đạt 11,28%...

Theo Chương trình giáo dục phổ thông mới, từ năm học 2022-2023, môn Tin học và Công nghệ sẽ là môn học bắt buộc với thời lượng 35 tiết/lớp/năm học. Bộ GD-ĐT cho biết, các địa phương đã tích cực xây dựng kế hoạch chuẩn bị điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học theo lộ trình, từng bước bảo đảm số phòng học máy tính phù hợp với quy mô nhà trường và trong thời gian tới sẽ tiến hành dự báo, xây dựng và thực hiện kế hoạch để học sinh ở tất cả các điểm trường đề được học môn Tin học.

Bên cạnh đó, các địa phương, nhà trường cũng cần có kế hoạch tuyển dụng, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên đue về số lượng, bảo đảm về chất lượng, được tập huấn, bồi dưỡng và từng bước được chuẩn hoá.

Thanh Xuân (Báo Nhân Dân)

Ngoài việc giảm thiểu hồ sơ, sổ sách, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục để triển khai sổ liên lạc điện tử, giáo án, sổ điểm điện tử... đang giúp đội ngũ nhà giáo trên cả nước tiết kiệm rất nhiều thời gian để tập trung cho công tác chuyên môn. Đặc biệt, việc đẩy mạnh số hóa trong giáo dục còn giúp tạo nên sự công bằng, đẩy lùi các tiêu cực “làm đẹp” điểm số.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong hoạt động giảng dạy được nhiều trường phổ thông đẩy mạnh. Ảnh: Hải Nguyễn.

Tiện ích, công khai, minh bạch

Chỉ với chiếc smartphone hoặc các thiết bị điện tử có kết nối Internet , cùng một vài thao tác đơn giản như nhập mã số học sinh, mật khẩu, anh Nguyễn Hữu Thắng (phụ huynh Trường Tiểu học Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội) có thể dễ dàng theo dõi tình hình học tập của con. Mọi thông tin về điểm số, lịch học, các lưu ý của giáo viên... đều được nhà trường cập nhật một cách nhanh chóng và tiện lợi qua hệ thống sổ liên lạc điện tử.

Tương tự, từ nhiều năm nay, nhiều trường học ở Hà Nội đã thực hiện “số hóa” trong giáo dục bằng việc sử dụng học bạ điện tử, sổ liên lạc điện tử thay cho hồ sơ giấy. Thông qua cổng dịch công hoặc ứng dụng Hà Nội Smartcity của UBND Thành phố Hà Nội, phụ huynh học sinh có thể theo dõi quá trình học tập của con ở trường. Tất cả việc này hoàn toàn miễn phí.

Theo nhận định của ông Lê Hồng Vũ - Trưởng phòng GDĐT quận Tây Hồ (Hà Nội), việc sử dụng sổ điểm điện tử, sổ liên lạc điện tử sẽ làm giảm đáng kể các đầu việc đối với giáo viên trong việc quản lý, xếp loại học sinh.

Nếu như trước kia, việc tính điểm cho học sinh được thực hiện thủ công rồi ghi chép vào sổ, khó tránh khỏi nhầm lẫn thì nay, với hạ tầng kỹ thuật, việc này được thực hiện hoàn toàn trên máy, giúp giáo viên tiết kiệm thời gian chép ra các loại sổ sách.

Không riêng Hà Nội, mà hiện nay việc triển khai sổ liên lạc điện tử, sổ điểm điện tử đã được áp dụng ở nhiều địa phương trên cả nước. Việc này cũng nằm trong lộ trình đẩy mạnh chuyển đổi số của ngành giáo dục, được xác định là khâu đột phá, nhiệm vụ quan trọng cần chú trọng triển khai thực hiện những năm tới đây của ngành.

Theo ông Nguyễn Sơn Hải - Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin (Bộ GDĐT), khi có sổ điểm điện tử, có thể thực hiện các giao dịch thông tin qua các thiết bị điện tử mà không cần phải sử dụng bản giấy, đến tận nơi hoặc phải photo công chứng… Phụ huynh và học sinh có thể hoàn thành các thủ tục cần thiết một cách nhanh chóng, chính xác ở bất cứ đâu. Đồng thời, việc sử dụng sổ điểm điện tử thay cho học bạ giấy cũng giúp công khai minh bạch các thông tin trong nội bộ của đơn vị, trong phạm vi quản lý ngành, giúp đẩy lùi các tiêu cực, vấn đề “làm đẹp” điểm số.

Ngoài ra, việc sử dụng sổ điểm điện tử, sổ liên lạc điện tử cũng là bước tiến trong giảm hồ sơ, sổ sách cho giáo viên. Nếu như trước đây, với một buổi dạy 5 tiết, cô Trần Thị Thu Giang (giáo viên Trường THPT Phúc Lợi, Hà Nội) phải mang theo khoảng 12 đầu sổ sách, hồ sơ (giáo án, sổ học bạ, sổ dự giờ...) thì giờ đây, mỗi buổi lên lớp của cô trở nên nhẹ nhàng hơn.

Trước đây, nhiều sổ sách cần làm và phải hoàn thiện để đảm bảo đánh giá về chất lượng công việc trong các cuộc kiểm tra định kỳ khiến cô bị áp lực. Nhưng từ tháng 11.2020, theo Thông tư 32 của Bộ GDĐT ban hành Điều lệ trường THCS, THPT và trường phổ thông nhiều cấp học, một trong những thay đổi quan trọng là quy định về việc giảm gánh nặng về hồ sơ, sổ sách cho giáo viên. Quy định mới cũng chính thức cho phép sử dụng hồ sơ điện tử, giúp cởi bỏ nhiều đầu việc giấy tờ, áp lực sổ sách cho thầy cô.

Cần sự đồng bộ

Hiện nay, ngành giáo dục đã và đang có những bước chuyển mạnh mẽ trên cơ sở ứng dụng các công nghệ mới của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Ngành đã xây dựng được cơ sở dữ liệu (big data) nhằm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động quản lý giáo dục. Cơ sở dữ liệu này đã số hóa thông tin của gần 53.000 trường học từ mầm non đến THPT, với gần 25 triệu học sinh và 1,5 triệu cán bộ, giáo viên, nhân viên trong ngành. Tất cả những đối tượng trong phạm vi quản lý của ngành đều được số hóa bằng mã định danh. Đây là bước tiến quan trọng để ngành giáo dục triển khai đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp Chính phủ điện tử, hướng đến vận hành theo mô hình Chính phủ số đến năm 2025. Dự kiến, trong thời gian tới, các cơ sở dữ liệu toàn quốc về GDĐT sẽ được hoàn chỉnh đầy đủ phục vụ công tác phân tích, dự báo và ra chính sách quản lý ngành.

Trong thời gian phòng, chống dịch COVID-19 vừa qua, ngành giáo dục đã biến thách thức thành cơ hội, đổi mới phương thức dạy học, triển khai dạy học trực tuyến và mang lại những hiệu quả bước đầu. Bộ trưởng Bộ GDĐT cũng đã chỉ đạo các đơn vị tập trung xây dựng và nhanh chóng ban hành các quy định về mô hình dạy học trực tuyến trong trường phổ thông, kèm theo các hướng dẫn về quy trình tổ chức dạy học trực tuyến, khung quy chế quản lý để tạo hành lang pháp lý, hướng dẫn cụ thể để các địa phương, nhà trường tổ chức triển khai phương thức dạy học trực tuyến đi vào thực chất hơn, hiệu quả hơn.

Dù lãnh đạo ngành giáo dục có sự quyết tâm thực hiện chuyển đổi số một cách đồng bộ, nhưng còn cần sự thay đổi trong nhận thức và tư duy của đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý các cấp. Đơn cử hiện nay, dù các địa phương đều có hệ thống sổ liên lạc điện tử, ứng dụng phần mềm công nghệ để thực hiện phương thức kết nối giữa nhà trường và gia đình một cách tiện lợi và miễn phí, thì nhiều trường phổ thông trên cả nước vẫn triển khai dịch vụ sổ liên lạc điện tử dưới hình thức gửi tin nhắn về điện thoại (SMS) và thu phí dịch vụ từ 30.000 đến 50.000 đồng/tháng/học sinh.

Có những nơi, dù có hệ thống sổ liên lạc điện tử sử dụng miễn phí, nhưng giáo viên, nhà trường “ngại” cập nhật lên hệ thống, khiến phụ huynh phàn nàn việc thông tin bị cũ, chậm. Nhiều phụ huynh cho rằng số hóa phải bắt đầu từ những việc rất nhỏ như sổ liên lạc điện tử giữa nhà trường và phụ huynh. Thay vì vẫn duy trì cách liên lạc bằng các dịch vụ có thu phí, thì hoàn toàn có thể thông tin qua website, email, tin nhắn OTT… Đó là các hình thức liên lạc miễn phí nhờ ứng dụng công nghệ thông tin.

Đặng Chung (Báo Nhân Dân)

Trong CT môn Tin học mới không có yêu cầu các GV Tin học phải cung cấp kiến thức cho HS học các phần mềm hỗ trợ học tập đã nêu trên. Nhiệm vụ này thuộc về các GV bộ môn.

Tin học là môn học có quan hệ liên môn lớn nhất với tất cả các môn học khác. Quan hệ này được thể hiện:

- Kỹ năng tối thiểu sử dụng công cụ CNTT (hay chính là kỹ năng số hóa phổ dụng) càng ngày càng trở nên quan trọng và không thể thiếu đối với tất cả các giáo viên các môn học. Trong mô hình trường học tương lai, tất cả các GV đều phải có các kỹ năng tối thiểu sử dụng thiết bị CNTT để hỗ trợ làm bài giảng điện tử. Do vậy các GV Tin học sẽ không còn có chức năng "làm Tin học" như sửa chữa máy tính, lắp đặt phần cứng phần mềm trong nhà trường nữa. GV Tin học sẽ được giải phóng và có vai trò độc lập như tất cả các môn học khác.


- Một trong những yếu tố mô tả quan hệ đặc biệt giữa Tin học với các môn học khác là hệ thống đồ sộ các phần mềm dùng để học tập, kiểm tra, đánh giá các môn học khác. Ví dụ:

+ Phần mềm học vẽ, học nhạc.

+ Phần mềm hỗ trợ học toán, vật lý, hóa học, sinh học.

+ Phần mềm hỗ trợ học và tra cứu lịch sử, địa lý, văn học.

+ Phần mềm hỗ trợ học ngoại ngữ.

+ Phần mềm tra cứu từ điển.

Một trong 5 năng lực thành tố của môn Tin học là năng lực NLd: Năng lực học tập, tự học với sự hỗ trợ của các hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông. Cần rất chú ý đến yêu cầu của năng lực này. Trong CT môn Tin học mới không có yêu cầu các GV Tin học phải cung cấp kiến thức cho HS học các phần mềm hỗ trợ học tập đã nêu trên. Nhiệm vụ này thuộc về các GV bộ môn.

Như vậy trong CTGDPT mới, ví dụ:

+ Các GV môn Toán sẽ có nhiệm vụ hướng dẫn sử dụng các phần mềm hỗ trợ học toán, ví dụ phần mềm Geogebra.

+ Các GV môn Sinh học có nhiệm vụ hướng dẫn sử dụng các phần mềm hỗ trợ học sinh học, ví dụ phần mềm Anatomy….

+ GV mỹ thuật, âm nhạc có nhiệm vụ hướng dẫn học sinh sử dụng các phần mềm học vẽ, học nhạc, ….

Trong chương trình môn Tin học mới có đưa ra một số phần mềm sau có thể được dùng để giảng dạy:

+ Bộ phần mềm soạn thảo văn bản, bảng tính điện tử, trình diễn đa phương tiện.

+ Phần mềm xử lý đa phương tiện như xử lý ảnh, âm thanh, video.

Như vậy trong tương lai, vai trò môn Tin học sẽ ngang bằng với các môn học khác. Đồng thời yêu cầu kỹ năng sử dụng CNTT của GV sẽ phải tăng lên đáng kể. Trong nhà trường cần có biên chế cho bộ phận quản lý phòng máy tính hoặc thiết bị CNTT độc lập với giáo viên Tin học.

Bùi Việt Hà

Gần đây, cùng với từ khóa CMCN 4.0, STEM cũng trở thành 1 cụm từ rất hot. Nhà nhà nói STEM, người người nói STEM. Vậy STEM là gì? nó có phải là một môn học? hay một phương pháp giảng dạy mới? hay là một công nghệ giáo dục mới của thế giới?

STEM không phải là môn học, cũng không phải là một phương pháp giảng dạy, cũng không phải là một công nghệ gì mới. Các gốc của ý tưởng STEM chính là câu nói "học đi đôi với hành" của ông cha chúng ta.

STEM là 4 chữ cái đầu của các từ Kỹ nghệ (Engineering), Toán học (Mathematics), Khoa học (Science) và Công nghệ (Technology). Bản thân STEM được các nhà khoa học và giáo dục đưa ra chỉ để muốn nhấn mạnh đến tầm quan trọng đặc biệt của 4 chuyên ngành trên trong sự phát triển các ứng dụng của khoa học kỹ thuật hiện nay.


Trên thực tế những phát minh công nghệ, khoa học, ứng dụng mới rất nhiều là một tích hợp công nghệ từ những chuyên ngành trên. Do vậy các nhà khoa học mới đưa ra 4 chữ cái trên, như một slogan để khuyến khích việc học tập, nghiên cứu, thực hành xung quanh các môn học này và tích hợp giữa chúng.

Tuy nhiên có 1 chuyên ngành nữa mà ai cũng biết đóng vai trò then chốt nhất, tích hợp giữa các hướng trên, đó chính là Tin học, hay nói chính xác hơn là khoa học máy tính trong tin học.

Khoa học máy tính là môn học mang đặc tính STEM rõ nhất, môn học này có nhiều điểm chung nhất với đồng thời các thành phần khác của STEM như Kỹ nghệ (Engineering), Toán học (Mathematics), Khoa học (Science) và Công nghệ (Technology). Sau đây là một vài lý giải cho mệnh đề trên.

- Hướng kiến thức này dựa trên một hệ thống cơ sở lý luận toán học chặt chẽ, logic và khoa học.

- Trọng tâm của Khoa học máy tính là "tư duy máy tính", có cơ sở lý luận hàn lâm nền tảng kết hợp thực nghiệm và đánh giá, đo đạc số liệu một cách khoa học.

- Lõi của Khoa học máy tính là phần kiến thức lập trình, một kỹ năng đòi hỏi quá trình thiết kế, xây dựng, kiểm thử và đánh giá dựa trên các tiêu chuẩn kỹ thuật.

- Khoa học máy tính yêu cầu và có liên quan rất nhiều đến sự hiểu biết, ứng dụng, đánh giá các công nghệ của nhiều chuyên ngành khác nhau.

Hơn nữa Khoa học máy tính còn có ứng dụng rất sâu trong tất cả các lĩnh vực STEM khác như chúng ta vẫn biết rõ điều đó. Có thể nói tư duy máy tính, các nguyên tắc cơ bản của tính toán, các cơ sở lý thuyết giải quyết vấn đề dựa trên máy tính là chìa khóa dẫn đến thành công của các nhánh khoa học khác như kỹ nghệ, kinh doanh và thương mại trong thế kỷ 21.

Do vậy mô hình hay cái gọi là STEM cần được thể hiện lại chính xác hơn như hình sau.


STEM bắt buộc phải gắn liền với Tin học, với Khoa học máy tính, chúng tuy 2 nhưng là 1 thực thể thống nhất, không thể tách rời. Khoa học máy tính là nền tảng lý thuyết và công nghệ kết nối các chuyên ngành khác nhau trong mô hình STEM.

Tin học, tư duy máy tính, hay chính xác là các môi trường lập trình thực sự hỗ trợ giáo dục STEM tốt nhất.

Vì sao lại có thể khẳng định môi trường lập trình hỗ trợ giáo dục STEM tốt nhất?

Như chúng ta đã biết, điểm cốt lõi cơ bản nhất của giáo dục STEM là vừa học vừa làm, thực hành làm ra các sản phẩm cụ thể, từ đó nâng cao sự đam mê, yêu thích môn học của mình.

Với cách hiểu trên thì với môn Tin học, tinh thần giáo dục STEM chính là khuyến khích làm ra các sản phẩm cụ thể từ kiến thức môn học của mình. Tin học là môn học có tính thực hành rất cao, lại tích hợp tính khoa học chặt chẽ, tư duy thuật toán chính là nền tảng toán học của lập trình. Ví dụ ngôn ngữ lập trình Scratch rất trực quan, dễ dàng tạo ra các sản phẩm, chương trình, phần mềm hay đơn giản là một trò chơi.

Với sự phát triển của công nghệ, thời gian gần đây các ứng dụng lập trình phần cứng, lập trình Robot có sự phát triển rất mạnh tạo nên cả một phong trào STEM rộng lớn trong các nhà trường. Tất cả những "công nghệ" STEM đó đều dựa trên nền tảng lõi là khoa học máy tính và Tin học.

Bùi Việt Hà

Khoa học máy tính đi sâu vào tìm hiểu cách làm việc và vận hành của máy tính và các hệ thống máy tính, tìm hiểu các máy tính và chương trình được thiết kế và lập trình như thế nào.

Tư duy máy tính: năng lực tư duy quan trọng nhất của Khoa học máy tính.

Xuất xứ của khái niệm Tư duy máy tính (computational thinking)

Người đầu tiên nhắc đến cụm từ này là Seymour Papert (29/2/1928 – 31/7/2016), giáo sư toán đại học MIT đồng thời là tác giả của phần mềm và ngôn ngữ lập trình LOGO, trong khi muốn đưa việc giảng dạy thuật toán bằng phần mềm này cho học sinh nhỏ tuổi.

… the thought processes involved in formulating problems and their solutions so that the solutions are represented in a form that can be effectively carried out by an information-processing agent.

tạm dịch:

"… là các quá trình tư duy bao gồm cả mô tả và lời giải bài toán sao cho lời giải có thể được thực hiện một cách hiệu quả bởi các tác tử xử lý thông tin."

Tác giả GS Jeannette Wing (hiện là phó chủ tịch Microsoft) là người đầu tiên đưa ra định nghĩa của khái niệm này (tư duy máy tính), như sau:

The solution can be carried out by a human or machine, or more generally, by combinations of humans and machines.”

tạm dịch:

"Lời giải phải (và có thể) được thực hiện bởi con người hoặc máy tính, hoặc tổng quát hơn, bởi sự kết hợp (đồng thời) con người và máy tính."

Như vậy tư duy máy tính chính là kỹ năng rất cơ bản để chúng ta có thể hiểu, biết một cách có lý, logic về thế giới xung quanh dựa trên sức mạnh của máy tính.

Phân môn "Khoa học máy tính" là môn học dạy các nguyên tắc lý thuyết và thực hành cho mô hình tính toán máy tính và các ứng dụng của mô hình này. Lõi của môn học này là khái niệm tư duy máy tính hay tư duy thuật toán. Đây là mô hình tư duy lõi, cơ bản nằm bên dưới các khái niệm quen thuộc như phần mềm, phần cứng máy tính. Mô hình tư duy này sẽ cung cấp các khung kiến thức để giải quyết các bài toán, vấn đề nảy sinh. Đi cùng mô hình tư duy này là 1 tập hợp các kiến thức lõi, cơ bản về lý thuyết cũng như thực hành, kỹ năng, năng lực phân tích, mô phỏng và giải quyết vấn đề.


Khoa học máy tính đi sâu vào tìm hiểu cách làm việc và vận hành của máy tính và các hệ thống máy tính, tìm hiểu các máy tính và chương trình được thiết kế và lập trình như thế nào. Học sinh sẽ được tiếp cận với các hệ thống tính toán theo mọi khía cạnh, có thể cần hoặc không cần có máy tính. "Tư duy máy tính" sẽ có ảnh hưởng đến cả các lĩnh vực khoa học khác như sinh học, hóa học, ngôn ngữ, tâm lý học, kinh tế và thống kê. Cũng chính tư duy đó sẽ giúp học sinh có thể giải các bài toán, giải quyết vấn đề, thiết kế hệ thống, sản phẩm và hiểu được sức mạnh cũng như giới hạn, hạn chế của con người và máy móc. Chính tư duy đó sẽ là yêu cầu kỹ năng, năng lực mà mỗi học sinh cần hiểu và nắm bắt được dù chỉ một phần của nó. Nếu có các kỹ năng, tư duy, suy luận như "máy tính" thì các học sinh này sẽ hiểu tốt hơn và có nhiều cơ hội hơn trong việc tiếp thu các công nghệ "dựa trên máy tính" (computer-based technology) và sẽ được chuẩn bị tốt hơn khi trở thành công dân tương lai trong xã hội hiện đại.

Khoa học máy tính là môn học thực hành, trong đó rất khuyến khích sự dũng cảm và sáng tạo. Học sinh được học các nguyên tắc, lý thuyết hàn lâm của môn học và khuyến khích ứng dụng sáng tạo để hiểu và mô phỏng được thế giới thực xung quanh các em. Sự kết hợp hài hòa giữa lý thuyết, thực hành và sáng tạo sẽ làm cho môn học này trở nên vô cùng hấp dẫn, giúp các học sinh có thể tạo ra được các sản phẩm vừa có ích ("Nó chạy rồi!") vừa trí tuệ ("Nó quá đẹp!").

Tư duy máy tính ở đây cần được hiểu là nói về khả năng con người có thể làm, chứ không phải máy tính có thể làm. Ví dụ khi nhắc đến tư duy máy tính người ta thường nhắc đến các khả năng suy nghĩ và làm việc logic, có tính (tối ưu) thuật toán, có thể lặp lại và có thể trừu tượng hóa.

Trong mô hình phân môn Khoa học máy tính của Tin học, tư duy máy tính cần được trang bị cho học sinh ngay từ cấp Tiểu học.

Các năng lực, kỹ năng cơ bản của tư duy máy tính bao gồm Trừu tượng hóa và Lập trình.

Bùi Việt Hà

Tại lễ trao giải cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên nhi đồng tỉnh Lạng Sơn lần thứ XII năm 2020 diễn ra ngày 4/12/2020, nhóm tác giả “Phần mềm Lương Văn Tri người con ưu tú Xứ Lạng” gây được ấn tượng mạnh với đông đảo đại biểu bởi tuy còn nhỏ tuổi song các em đã có một sản phẩm rất hữu ích hỗ trợ học tập và nghiên cứu về nhân vật lịch sử.

Em Nông Quang Dũng, học sinh lớp 4A6, Trường tiểu học Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn, thành viên nhóm nghiên cứu cho biết: Năm 2020 kỷ niệm 110 năm ngày sinh đồng chí Lương Văn Tri, do đó có rất nhiều hoạt động về nhân vật lịch sử này. Trong quá trình sinh hoạt tại Câu lạc bộ Học sinh năng khiếu tin học của trường, chúng em đã có ý tưởng xây dựng phần mềm tích hợp các thông tin, hình ảnh, bài hát, video về đồng chí Lương văn Tri.

Nhóm nghiên cứu Trường Tiểu học Hoàng Văn Thụ (thứ 2, 3, 4 từ trái qua) tại lễ trao giải cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên nhi đồng tỉnh Lạng Sơn lần thứ XII năm 2020.

Thực hiện ý tưởng, tháng 4/2020, nhóm nghiên cứu gồm Nông Quang Dũng lớp 4A6 và Hoàng Mạnh Quân, Lê Quang Huy lớp 4A4 cùng thầy Phạm Đức Huy, giáo viên hướng dẫn đã xây dựng nội dung phần mềm. Mỗi thành viên trong nhóm được giao phụ trách một nhiệm vụ cụ thể như tìm các bài viết, thông tin, video, hình ảnh… sau đó cùng nhau viết phần mềm và bổ sung thông tin để lấp đầy các mục dữ liệu.

Thầy Phạm Đức Huy cho biết: Khó khăn của nhóm là các học sinh còn nhỏ tuổi nên thiếu kỹ năng lập kế hoạch, làm việc nhóm. Nhóm triển khai ý tưởng trong đợt dịch Covid-19 có diễn biến phức tạp nên công tác tìm hiểu, tập hợp tài liệu gặp nhiều khó khăn. Tài liệu về đồng chí Lương Văn Tri là tài liệu riêng biệt khó tìm kiếm tại những thư viên phổ thông. Thư viện tỉnh làm việc theo giờ hành chính, thời điểm này các em phải tham gia học tập tại trường nên hạn chế trong việc tra cứu. Để thực hiện được ý tưởng, nhóm đã tranh thủ thời gian tìm kiếm trên internet, sưu tầm tài liệu thông qua người quen, bạn bè…

Sau 3 tuần làm việc khẩn trương, nhóm đã hoàn thành sản phẩm với giao diện đẹp, dễ sử dựng và dễ cài đặt. Nội dung chính của phần mềm gồm các mục: thân thế sự nghiệp, bài viết, video, bài hát, ảnh về tiểu sử, sự nghiệp hoạt động cách mạng của đồng chí Lương Văn Tri, bài viết của nhiều tác giả, phim tài liệu, phóng sự, ảnh và các bài hát, thông tin liên quan đến quê hương Văn Quan, địa danh mang tên đồng chí Lương Văn Tri, hoạt động liên quan đến đồng chí Lương Văn Tri, đặc biệt là các hoạt động kỷ niệm 110 năm ngày sinh của đồng chí…

Ưu điểm của phần mềm là người dùng có thể gửi trực tiếp thư điện tử (email) để liên hệ, tương tác với nhóm tác giả thông qua kết nối internet. Sau khi tìm hiểu các tài liệu, người dùng có thể tham gia phần trắc nghiệm vui là những câu hỏi ngắn về đồng chí Lương Văn Tri. Người dùng có thể tải trực tiếp tài liệu từ phần mềm về máy tính của mình với thao tác đơn giản. Đặc biệt, ngoài chạy trên hệ điều hành Windows của máy tính phần mềm còn có 2 phiên bản khác chạy trên môi trường web và các thiết bị thông minh, thông tin được cập nhật liên tục từ nhiều nguồn với nhiều tài liệu phong phú hơn. Trên web người dùng truy cập địa chỉ https://luongvantri.blogspot.com; trên các thiết bị thông minh như điện thoại, máy tính bảng… người dùng có thể tải ứng dụng từ trang web cài vào máy.

Bà Dương Thị Lan, Phó Hiệu trưởng Trường Tiểu học Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn cho hay: Sau khi hoàn thành, phần mềm Lương Văn Tri người con ưu tú Xứ Lạng đã được nhà trường sử dụng để tuyên truyền nhân dịp kỷ niệm 110 năm ngày sinh đồng chí Lương Văn tri và các giờ học lịch sử địa phương. Học sinh rất thích phần mềm này vì thông tin đa dạng, dễ hiểu, dễ tiếp thu lại thiết thực với hoạt động học tập của các em.

Thực tế cho thấy phầm mềm dễ sử dụng, tích hợp nhiều thông tin bổ ích, nhiều phiên bản nên có thể sử dụng mọi lúc, mọi nơi, thích hợp cho việc nghiên cứu, tìm hiểu, tuyên truyền, giáo dục… Từ khi hoàn thành đến nay đã có hàng nghìn lượt truy cập, tải về phục vụ nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểu. Trong thời gian tới, nhóm sẽ tiếp tục xây dựng phần mềm về các nhân vật lịch sử để tạo thành bộ phần mềm về các danh nhân tỉnh Lạng Sơn.

Hoàng Vương (Báo Lạng Sơn)

MKRdezign

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget