tháng 11 2020

Trong thời đại 4.0 hiện nay, việc ứng dụng công nghệ vào lĩnh vực giáo dục đã tạo ra được những hiệu quả nhất định, đặc biệt là trong thời điểm dạy học trực tuyến đang lên ngôi một cách mạnh mẽ.

Màn hình chuyên dụng với khả năng tương tác mang đến trải nghiệm dạy và học hoàn toàn mới.

Màn hình chuyên dụng được xem trợ thủ đắc lực với nhiều ưu điểm vượt trội nhằm nâng cao chất lượng dạy học và mang đến những trải nghiệm học tập mới dành cho học sinh – sinh viên.

Xu hướng tất yếu trong giáo dục thời đại mới

Trong môi trường học vấn, bảng đen là một công cụ dạy học truyền thống đã luôn hiện hữu xuyên suốt quy trình giảng dạy, cũng như hỗ trợ cho việc trình bày ý tưởng, thảo luận và cả thuyết trình. Tuy nhiên, trong bối cảnh cách mạng công nghệ 4.0 hiện nay, nếu bảng truyền thống đang dần mất đi vai trò vốn có, thì sự xuất hiện của màn hình tương tác chuyên dụng là một yếu tố đánh giá sự chuyển mình của ngành giáo dục trong thời đại mới.

Thuộc dòng màn hình chuyên dụng của Samsung, bảng tương tác Flip 2 không chỉ mang đến giải pháp tích hợp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy trong môi trường học vấn, mà còn cam kết mang đến trải nghiệm mới mẻ xuyên suốt quá trình dạy và học.

Trợ thủ đắc lực của giáo viên với đầy đủ các tính năng

Trong bối cảnh hiện nay, khi việc dạy học trực tuyến đang được sử dụng triệt để trong quá trình giảng dạy, thì quy trình trình chiếu nội dung trong các buổi học càng được chú trọng và phát triển toàn diện. Vì thế, để giúp giáo viên có thể trình chiếu nội dung một cách mượt mà và hạn chế giật lag, bảng tương tác Flip 2 cho phép người dùng chỉnh sửa, viết và cập nhật nội dung một cách trực tiếp. Tương tự, trong quá trình trình chiếu bài giảng của mình, nhờ vào tính năng này, giáo viên có thể chỉnh sửa bài trực tiếp ngay khi đang trình chiếu, giúp học sinh – sinh viên dễ dàng nắm bắt kiến thức xuyên suốt quá trình giảng dạy.

Ngoài ra, bảng tương tác Flip 2 vừa giúp các giáo viên có thể lưu trữ các bài giảng của mình thay vì viết và xóa như bảng đen/ bảng trắng, cũng vừa bảo mật các thông tin liên quan đến điểm số, nội dung bài thi một cách dễ dàng và tuyệt đối. Mặc dù việc giáo viên chia sẻ tài liệu dễ dẫn đến nhiều hạn chế như thiếu sót về mặt số lượng hoặc dễ mất và lẫn lộn vào nhau, màn hình chuyên dụng của Samsung đã cung cấp tính năng chia sẻ nhanh chóng, hỗ trợ giáo viên tiết kiệm và tối ưu hóa thời gian gửi bài hay tài liệu tham khảo đến với học sinh.

Bảng tương tác Flip 2 rút ngắn khoảng cách giữa giáo viên và học sinh.

Giúp học sinh tăng tính chủ động và sáng tạo

Việc ứng dụng công nghệ còn thu hút học sinh - sinh viên tập trung và tương tác với bài học tốt hơn. Đặc biệt là đối với các học sinh đang trong độ tuổi dễ phân tán và mất tập trung như học sinh cấp 1, cấp 2, thì việc minh họa bằng hình ảnh sống động là một điều không thể thiếu. Để hình thành nên những bài giảng đầy thu hút đó, bảng tương tác Flip 2 cho phép người dùng tự do vẽ, viết mà không cần đến bút chuyên dụng. Nhờ đó, các học sinh cũng có thể dễ dàng tương tác với bài giảng, kích thích thị giác và thúc đẩy khả năng sáng tạo của bản thân.

Bảng tương tác Flip 2 là công cụ không chỉ hỗ trợ việc học, mà giúp cho quá trình làm việc nhóm diễn ra mượt mà hơn.

Đối với sinh viên, sử dụng bảng tương tác Flip 2 trong quá trình giảng dạy và học không chỉ thúc đẩy sự tương tác giữa các sinh viên với nhau mà còn kích thích khả năng tư duy của các bạn trong quá trình lên ý tưởng hoặc làm việc nhóm. Ví dụ cụ thể có thể kể đến các bạn sinh viên thiết kế đồ họa, với bảng tương tác Flip 2, các bạn có thể dễ dàng sao chép những bản nháp từ Flip 2 sang máy tính chỉ trong vài thao tác nhanh gọn. Đồng thời, Flip 2 còn cung cấp khả năng kết nối tương thích với nhiều thiết bị, cho phép các người dùng tương tác cùng lúc với nhau. Chẳng những là công cụ cần thiết nhằm hỗ trợ việc học, bảng tương tác Flip 2 mang đến các lợi ích vượt trội nhằm nâng tầm chất lượng cho ngành giáo dục hiện nay.

Ngoài bảng tương Flip 2 với các tính năng vượt trội, Samsung còn cho ra mắt các dòng màn hình chuyên dụng khác như: Dòng màn hình kích thước lớn LCD cho phòng học với kích thước lên đến 98 inches, dòng màn hình LED dành cho hội trường với kích thước hơn 100 inches, màn hình tương tác đơn tại hành lang như Samsung Stand Alone Signage hay các màn hình hiển thông tin trong khuôn viên trường,…

Nguồn: Giáo dục và Thời đại

Bây giờ chúng ta sẽ một lần nữa giải thích cho rõ hơn về khái niệm Chương trình môn học định hướng năng lực là gì và các đặc điểm riêng biệt của môn Tin học nếu định hướng chương trình theo năng lực là gì.

Về khái niệm một chương trình môn học định hướng năng lực, có 2 điều cơ bản nhất cần nhớ rõ:

1. Chương trình được thiết kế không dựa trên các nội dung định trước, mà dựa trên các nhu cầu thực tế của năng lực. Trong ngành quản lý giáo dục người ta gọi đó là qui trình "thiết kế ngược", tức là xuất phát ban đầu là các yêu cầu kỹ năng, năng lực cần đạt, dựa trên các yêu cầu đó sẽ thiết kế nội dung chương trình. Toàn bộ chương trình các môn học của CTGDPT mới đều được thiết kế theo mô hình "ngược" này.

2. Vì chương trình lấy năng lực đầu ra làm mục đích chính nên chỉ có phần yêu cầu năng lực là cố định, bắt buộc và có tính pháp lý. Và như vậy về lý thuyết có thể có nhiều chương trình, nhiều bộ SGK, nhiều cách tiếp cận của chương trình để giải quyết một bài toán đầu ra đó. Như vậy trong mô hình chương trình định hướng năng lực sẽ có nhiều bộ SGK, các bộ sách này đều phải được viết dựa trên một Chương trình môn học thiết kế mở dựa trên định hướng năng lực.

Quay lại chương trình môn Tin học trong CTGDPT mới, chúng ta thấy rõ tính định hướng năng lực của CT này thể hiện ở cách thiết lập chương trình dựa trên các yếu tố năng lực đã trình bày trong phần trên của bài viết này. Tuy nhiên do đặc điểm của minh, chương trình định hướng năng lực của Tin học có rất nhiều điểm riêng biệt.

Các điểm đặc biệt riêng của Chương trình môn Tin học định hướng năng lực:

1. Chương trình môn Tin học mới lần này không những được xây dựng dựa trên 5 cầu thành năng lực chính, mà còn dựa trên sự phân loại lại một cách bài bản của 3 mạch nội dung CS, IT, DL.

Sơ đồ thiết kế chương trình môn Tin học định hướng năng lực như sau:


2. Tin học là môn học có tính thực hành và đậm đặc ý tưởng sản phẩm sáng tạo, hay nói cách khác, là môn học có tính STEM rất cao. Như vậy trong môn Tin học, đa số, hoặc rất nhiều năng lực, kỹ năng, kiến thức sẽ được đánh giá thông qua các sản phẩm hoàn thiện. Đặc điểm này các GV cần chú ý đặc biệt. Một vài ví dụ:

- Khi học soạn thảo văn bản, sản phẩm là 1 văn bản được trang trí, trình bày đẹp theo yêu cầu chính là sản phẩm cuối cùng, không quan trọng HS làm được điều đó bằng cách nào.

- Học phần mềm trình diễn (ví dụ PowerPoint), sản phẩm cuối cùng là một trình diễn đa phương tiện đáp ứng yêu cầu của GV, có tính sáng tạo của HS và do chính HS trình bày, không quan trọng là HS làm được sản phẩm này bằng lệnh nào.

Bùi Việt Hà

Trong bản đề cương chương trình môn Tin học trong CTGDPT mới, nếu để ý, chúng ta sẽ thấy cụm từ "3 mạch trí thức DL, IT và CS hòa quyện" được nhắc lại nhiều lần. Vì sao lại như vậy? Thật ra theo tôi chữ "hòa quyện" ở đây không thật chính xác và chưa phản ánh đúng nhất quan hệ giữa 3 mạch tri thức này. Có thể bỏ hẳn từ "hòa quyện" này khi nhắc đến 3 khái niệm này.

Điều quan trọng nhất là các GV phải hiểu rằng các khái niệm này mặc dù là khác biệt nhau nhưng giữa chúng vẫn có các quan hệ đặc biệt, liên quan, tương hỗ lẫn nhau. Chúng ta cùng tìm hiểu các quan hệ tương hỗ, hòa quyện này trong phần này. Có 4 ý quan trọng sau:

1. Trước tiên cần nhấn mạnh ngay rằng DL, IT, CS là các khái niệm độc lập, hoàn toàn khác biệt nhau, và cùng đứng trong chương trình môn Tin học. Các định nghĩa và so sánh giữa chúng đã được nêu trong các phần trên của bài viết này.

2. Tuy nhiên, việc phân loại kiến thức thành 3 mạch (hướng) CS, IT, DL là không có ranh giới rõ ràng. Trong sơ đồ 3 vòng tròn mô tả 3 định hướng này chúng ta thấy các vòng tròn này không rời nhau, có sự chồng lấn nhau.


Thật vậy có rất nhiều kiến thức và chủ đề kiến thức không thể phân loại chính xác nằm trong mạch kiến thức cụ thể nào. Có những chủ đề kiến thức có thể nằm trong 2 hoặc cả 3 mạch tri thức này.

Ví dụ 1: Bài học thực hành liên quan đến bảng tính điện tử (ví dụ Excel). Các thao tác cơ bản liên quan đến nhận biết, tính toán dữ liệu trên các ô bảng tính có thể được coi những các kỹ năng cơ bản thuộc về DL (học vấn số hóa phổ thông). Mặt khác các tính toán ứng dụng thành thạo bảng tính có thể được coi là ứng dụng CNTT, phần mềm thuần túy và đương nhiên thuộc về mạch kiến thức IT (ứng dụng CNTT). Đặc biệt hơn nữa trong rất nhiều chương trình Tin học, việc tính toán, xử lý dữ liệu, vận dụng các hàm xử lý số trên các ô bảng tính được coi là các kiến thức về phân loại và biểu diễn số cơ bản và được xếp vào lĩnh vực Khoa học máy tính - CS.

Ví dụ 2: Lập trình. Cho đến bây giờ các chuyên gia giáo dục vẫn còn chưa thống nhất là nên xếp các bài học lập trình cụ thể vào hướng nào, IT hay CS. Nhiều người trong chúng ta vẫn hiểu đương nhiên lập trình phải thuộc mảng khoa học máy tính, tức là CS. Tuy nhiên trên thế giới hiện nay, lập trình vẫn được coi là 1 nghề, và được xếp vào mạch tri thức IT.

3. Một lý do nữa cho việc vì sao cần phải "hòa quyện" các mạch tri thức CS, IT, DL là bản thân các khái niệm liên quan đến các mạch kiến thức này đã và vẫn đang thay đổi theo thời gian và không thể cố định vào 1 khung nào đó. Công nghệ và ứng dụng công nghệ đang thay đổi rất nhanh trên thế giới. Có những kiến thức hôm nay là kiến thức nền tảng thì ngày mai đã trở thành các ứng dụng thuần túy. Có những kỹ năng hôm nay được coi là khó thì ngày mai đã trở nên rất đơn giản.

Ví dụ soạn thảo văn bản. Nếu như cách đây 10-15 năm khi các ứng dụng của Tin học văn phòng còn chưa phổ biến thì soạn thảo văn bản, các bài học kỹ năng gõ bàn phím được xếp vào lĩnh vực ứng dụng CNTT - IT. Nhưng hiện nay khi các ứng dụng văn phòng trở nên rất phổ biến thì soạn thảo văn bản sẽ được coi là những kỹ năng cơ bản và sẽ được xếp vào lĩnh vực học vấn số hóa phổ dụng - DL. Các giới hạn của DL, IT và cả CS cũng thay đổi theo thời gian, do đó các mạch tri thức này sẽ có chồng lấn là tất nhiên.

4. Có thể tóm tắt quan hệ "hòa quyện" giữa 3 mạch CS, IT, DL như sau:

- Đây là 3 mạch tri thức hoàn toàn khác biệt, được định nghĩa chính xác, rõ ràng và độc lập hoàn toàn với nhau.

- Tuy nhiên rất khó xác định ranh giới kiến thức cụ thể giữa 3 định hướng nội dung này. Thực tế có sự giao thoa, chồng lấn giữa các mạch kiến thức này như đã trình bày ở trên.

- Điểm cuối cùng cần nhớ: trong 3 mạch tri thức này, mạch CS có tính ổn định cao nhất và sẽ càng ngày càng đóng vai trò trọng tâm của môn Tin học. 2 mạch IT và DL thì ngược lại, sẽ thay đổi theo thời gian, và sự thay đổi này ngày càng diễn ra nhanh chóng. Đây là điểm đặc biệt nhất mà các GV Tin học cần nhớ rõ.

Bùi Việt Hà

Trong hai ngày 12 và 13 tháng 11 năm 2020, Sở Giáo dục và Đào tạo Lạng Sơn tổ chức tập huấn sử dụng bộ Office 365.

Chương trình được tổ chức với hình thức trực tuyến, gồm điểm cầu chính tại Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh, các điểm cầu còn lại gồm các Phòng Giáo dục huyện, thành phố và các trường trung học phổ thông trực thuộc Sở.

Office 365 là gói phần mềm dịch vụ thương mại cung cấp các phiên bản trên nền tảng đám mây của các phần mềm thông dụng của Microsoft trong đó bao gồm: gói ứng dụng văn phòng Microsoft Office. Trong đó có một số ứng dụng thích hợp cho việc quản lý, dạy và học tại các đơn vị trường học, đặc biệt phục vụ cho việc dạy và học trực tuyến trong tình hình mới.

Dưới đây là một số hình ảnh từ buổi tập huấn:












Một bài giảng STEM luôn cần gắn với thực tế để học sinh cảm thấy sự liên quan giữa bài học và cuộc sống của chính mình, từ đó giúp học sinh nhận ra giá trị của các kiến thức và kĩ năng được học, đồng thời rèn luyện tư duy giải quyết vấn đề thực tế ngay từ khi còn đang còn ngồi trên ghế nhá trường.

Như đã giới thiệu, một trong những cách để tạo nên bài giảng như vậy đó là hướng dẫn học sinh quan sát và phân tích 1 vấn đề dưới nhiều góc độ thực tế, tránh nói chung chung, xa vời và quá sâu xa. Bên cạnh đó, đòi hỏi giáo viên cần phải nắm được các hoạt động thực tế mà học sinh cần phải thực hiện như sau:

I. Các hoạt động cần thiết trong bài giảng STEM

1. Hoạt động tìm hiểu thực tiễn, phát hiện vấn đề

Trong các bài giảng STEM, học sinh được đặt trước các nhiệm vụ thực tiễn: giải quyết một tình huống hoặc tìm hiểu, cải tiến một ứng dụng kĩ thuật nào đó. Thực hiện nhiệm vụ này, học sinh cần phải thu thập được thông tin, phân tích được tình huống, giải thích được ứng dụng kĩ thuật từ đó xuất hiện các câu hỏi hoặc xác định được vấn đề cần giải quyết.

2. Hoạt động nghiên cứu kiến thức nền

Từ những câu hỏi hoặc vấn đề cần giải quyết, học sinh được yêu cầu/hướng dẫn tìm tòi, nghiên cứu để tiếp nhận kiến thức, kĩ năng cần sử dụng cho việc trả lời câu hỏi hay giải quyết vấn đề. Đó là những kiến thức, kĩ năng đã biết hay cần dạy cho học sinh trong chương trình giáo dục phổ thông.

Hoạt động này bao gồm: nghiên cứu tài liệu khoa học (bao gồm sách giáo khoa); quan sát/thực hiện các thí nghiệm, thực hành; giải các bài tập/tình huống có liên quan để nắm vững kiến thức, kĩ năng.

3. Hoạt động giải quyết vấn đề

Về bản chất, hoạt động giải quyết vấn đề là hoạt động sáng tạo khoa học, kĩ thuật, nhờ đó giúp cho học sinh hình thành và phát triển các phẩm chất và năng lực cần thiết thông qua việc đề xuất và kiểm chứng các giả thuyết khoa học hoặc đề xuất và thử nghiệm các giải pháp kĩ thuật. Tương ứng với đó, có hai loại sản phẩm là “kiến thức mới” (dự án khoa học) và “công nghệ mới” (dự án kĩ thuật).

+ Đối với hoạt động sáng tạo khoa học: kết quả nghiên cứu là những đề xuất mang tính lí thuyết được rút ra từ các số liệu thu được trong thí nghiệm kiểm chứng giả thuyết khoa học. Ví dụ: tìm ra chất mới; yếu tố mới, quy trình mới tác động đến sự vật, hiện tượng, quá trình trong tự nhiên…

+ Đối với hoạt động sáng tạo kĩ thuật: kết quả nghiên cứu là sản phẩm mang tính ứng dụng thể hiện giải pháp công nghệ mới được thử nghiệm thành công. Ví dụ: dụng cụ, thiết bị mới; giải pháp kĩ thuật mới…


II. Các tiêu chí xây dựng bài giảng STEM

Tiêu chí 1: Chủ đề bài học STEM tập trung vào các vấn đề của thực tiễn

Trong các bài giảng STEM, học sinh được đặt vào các vấn đề thực tiễn xã hội, kinh tế, môi trường và yêu cầu tìm các giải pháp.

Tiêu chí 2: Cấu trúc bài học STEM theo quy trình thiết kế kĩ thuật

Quy trình thiết kế kĩ thuật cung cấp một tiến trình linh hoạt đưa học sinh từ việc xác định một vấn đề – hoặc một yêu cầu thiết kế – đến sáng tạo và phát triển một giải pháp. Theo quy trình này, học sinh thực hiện các hoạt động:

+ Xác định vấn đề

+ Nghiên cứu kiến thức nền

+ Đề xuất các giải pháp/thiết kế

+ Lựa chọn giải pháp/thiết kế

+ Chế tạo mô hình (nguyên mẫu)

+ Thử nghiệm và đánh giá

+ Chia sẻ và thảo luận

+ Điều chỉnh thiết kế.

Trong thực tiễn dạy học, quy trình 8 bước này được thể hiện qua 5 hoạt động chính:

+ Hoạt động 1: Xác định vấn đề (yêu cầu thiết kế, chế tạo)

+ Hoạt động 2: Nghiên cứu kiến thức nền và đề xuất các giải pháp thiết kế

+ Hoạt động 3: Trình bày và thảo luận phương án thiết kế

+ Hoạt động 4: Chế tạo mô hình/thiết bị… theo phương án thiết kế (đã được cải tiến theo góp ý); thử nghiệm và đánh giá

+ Hoạt động 5: Trình bày và thảo luận về sản phẩm được chế tạo; điều chỉnh thiết kế ban đầu. Trong quy trình kĩ thuật, các nhóm học sinh thử nghiệm các ý tưởng dựa nghiên cứu của mình, sử dụng nhiều cách tiếp cận khác nhau, mắc sai lầm, chấp nhận và học từ sai lầm, và thử lại. Sự tập trung của học sinh là phát triển các giải pháp để giải quyết vấn đề đặt ra, nhờ đó học được và vận dụng được kiến thức mới trong chương trình giáo dục.

Tiêu chí 3: Phương pháp dạy học bài học STEM đưa học sinh vào hoạt động tìm tòi và khám phá, định hướng hành động, trải nghiệm và sản phẩm

Quá trình tìm tòi khám phá được thể hiện trong tất cả các hoạt động của chủ đề STEM, tuy nhiên trong hoạt động 2 và hoạt động 4 quá trình này cần được khai thác triệt để. Trong hoạt động 2 học sinh sẽ thực hiện các quan sát, tìm tòi, khám phá để xây dựng, kiểm chứng các quy luật, qua đó học được kiến thức nền đồng thời rèn luyện các kĩ năng tiến trình như: quan sát, đưa ra dự đoán, tiến hành thí nghiệm, đo đạc, thu thập số liệu, phân tích số liệu… Trong hoạt động 4, quá trình tìm tòi khám phá được thể hiện giúp học sinh kiểm chứng các giải pháp khác nhau để tối ưu hoá sản phẩm.

Trong các bài giảng STEM, hoạt động học của học sinh được thực hiện theo hướng mở có “khuôn khổ” về các điều kiện mà học sinh được sử dụng (chẳng hạn các vật liệu khả dụng). Hoạt động học của học sinh là hoạt động được chuyển giao và hợp tác; các quyết định về giải pháp giải quyết vấn đề là của chính học sinh. Học sinh thực hiện các hoạt động trao đổi thông tin để chia sẻ ý tưởng và tái thiết kế nguyên mẫu của mình nếu cần. Học sinh tự điều chỉnh các ý tưởng của mình và thiết kế hoạt động tìm tòi, khám phá của bản thân.

Tiêu chí 4: Hình thức tổ chức bài học STEM lôi cuốn học sinh vào hoạt động nhóm kiến tạo

Giúp học sinh làm việc trong một nhóm kiến tạo là một việc khó khăn, đòi hỏi tất cả giáo viên STEM ở trường làm việc cùng nhau để áp dụng phương thức dạy học theo nhóm, sử dụng cùng một ngôn ngữ, tiến trình và yêu cầu về sản phẩm học tập mà học sinh phải hoàn thành. Làm việc nhóm trong thực hiện các hoạt động của bài học STEM là cơ sở phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh.

Tiêu chí 5: Nội dung bài học STEM áp dụng chủ yếu từ nội dung khoa học và toán mà học sinh đã và đang học

Trong các bài học STEM, giáo viên cần kết nối và tích hợp một cách có mục đích nội dung từ các chương trình khoa học, công nghệ, tin học và toán. Lập kế hoạch để hợp tác với các giáo viên toán, công nghệ, tin học và khoa học khác để hiểu rõ nội hàm của việc làm thế nào để các mục tiêu khoa học có thể tích hợp trong một bài học đã cho. Từ đó, học sinh dần thấy rằng khoa học, công nghệ, tin học và toán không phải là các môn học độc lập, mà chúng liên kết với nhau để giải quyết các vần đề. Điều đó có liên quan đến việc học toán, công nghệ, tin học và khoa học của học sinh.

Tiêu chí 6: Tiến trình bài học STEM tính đến có nhiều đáp án đúng và coi sự thất bại như là một phần cần thiết trong học tập

Một câu hỏi nghiên cứu đặt ra, có thể đề xuất nhiều giả thuyết khoa học; một vấn đề cần giải quyết, có thể đề xuất nhiều phương án, và lựa chọn phương án tối ưu. Trong các giả thuyết khoa học, chỉ có một giả thuyết đúng. Ngược lại, các phương án giải quyết vấn đề đều khả thi, chỉ khác nhau ở mức độ tối ưu khi giải quyết vấn đề. Tiêu chí này cho thấy vai trò quan trọng của năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo trong dạy học STEM.


III. Quy trình 4 bước trong thiết kế bài giảng STEM

Bước 1: Lựa chọn chủ đề bài học

Căn cứ vào nội dung kiến thức trong chương trình môn học và các hiện tượng, quá trình gắn với các kiến thức đó trong tự nhiên; quy trình hoặc thiết bị công nghệ có sử dụng của kiến thức đó trong thực tiễn… để lựa chọn chủ đề của bài học. Những ứng dụng đó có thể là: Sữa chua/dưa muối – Vi sinh vật – Quy trình làm sữa chua/muối dưa; Thuốc trừ sâu – Phản ứng hóa học – Quy trình xử lí dư lượng thuốc trừ sâu; Hóa chất – Phản ứng hóa học – Quy trình xử lí chất thải; Sau an toàn – Hóa sinh – Quy trình trồng rau an toàn; Cầu vồng – Ra đar – Máy quang phổ lăng kính; Kính tiềm vọng, kính mắt; Ống nhòm, kính thiên văn; Sự chìm, nổi – lực đẩy Ác–si–mét – Thuyền/bè; Hiện tượng cảm ứng điện từ – Định luật Cảm ứng điện từ và Định luật Lenxơ – Máy phát điện/động cơ điện; Vật liệu cơ khí; Các phương pháp gia công cơ khí; Các cơ cấu truyền và biến đổi chuyển động; Các mối ghép cơ khí; Mạch điện điều khiển cho ngôi nhà thông minh…

Bước 2: Xác định vấn đề cần giải quyết

Sau khi chọn chủ đề của bài học, cần xác định vấn đề cần giải quyết để giao cho học sinh thực hiện sao cho khi giải quyết vấn đề đó, học sinh phải học được những kiến thức, kĩ năng cần dạy trong chương trình môn học đã được lựa chọn (đối với STEM kiến tạo) hoặc vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã biết (đối với STEM vận dụng) để xây dựng bài học. Theo những ví dụ nêu trên, nhiệm vụ giao cho học sinh thực hiện trong các bài học có thể là: Thiết kế, chế tạo một máy quang phổ đơn giản trong bài học về bản chất sóng của ánh sáng; Thiết kế, chế tạo một ống nhòm đơn giản khi học về hiện tượng phản xạ và khúc xạ ánh sáng; Chế tạo bè nổi/thuyền khi học về Định luật Ác–si–mét; Chế tạo máy phát điện/động cơ điện khi học về cảm ứng điện từ; Thiết kế mạch lôgic khi học về dòng điện không đổi; Thiết kế robot leo dốc, cầu bắc qua hai trụ, hệ thống tưới nước tự động, mạch điện cảnh báo và điều khiển cho ngôi nhà thông minh; Xây dựng quy trình làm sữa chua/muối dưa; Xây dựng quy trình xử lí dư lượng thuốc trừ sâu trong rau/quả; Xây dựng quy trình xử lí hóa chất ô nhiễm trong nước thải; Quy trình trồng rau an toàn…

Trong quá trình này, việc thử nghiệm chế tạo trước các nguyên mẫu có thể hỗ trợ rất tốt quá trình xây dựng chủ đề. Qua quá trình xây dựng, giáo viên có thể hình dung các khó khăn học sinh có thể gặp phải, các cơ hội vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề cũng như xác định được đúng đắn các tiêu chí của sản phẩm trong bước 3.

Bước 3: Xây dựng tiêu chí của thiết bị/giải pháp giải quyết vấn đề

Sau khi đã xác định vấn đề cần giải quyết/sản phẩm cần chế tạo, cần xác định rõ tiêu chí của giải pháp/sản phẩm. Những tiêu chí này là căn cứ quan trọng để đề xuất giả thuyết khoa học/giải pháp giải quyết vấn đề/thiết kế mẫu sản phẩm. Đối với các ví dụ nêu trên, tiêu chí có thể là: Chế tạo máy quang phổ sử dụng lăng kính, thấu kính hội tụ; tạo được các tia ánh sáng màu từ nguồn sáng trắng; Chế tạo ống nhòm/kính thiên văn từ thấu kính hội tụ, phân kì; quan sát được vật ở xa với độ bội giác trong khoảng nào đó; Quy trình sản xuất sữa chua/muối dưa với tiêu chí cụ thể của sản phẩm (độ ngọt, độ chua, dinh dưỡng…); Quy trình xử lí dư lượng thuốc trừ sâu với tiêu chí cụ thể (loại thuốc trừ sâu, độ “sạch” sau xử lí); Quy trình trồng rau sạch với tiêu chí cụ thể (“sạch” cái gì so với rau trồng thông thường)…

Các tiêu chí cũng phải hướng tới việc định hướng quá trình học tập và vận dụng kiến thức nền của học sinh chứ không nên chỉ tập trung đánh giá sản phẩm vật chất. 

Bước 4: Thiết kế tiến trình tổ chức hoạt động dạy học.

Tiến trình tổ chức hoạt động dạy học được thiết kế theo các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực với 5 loại hoạt động học đã nêu ở trên. Mỗi hoạt động học được thiết kế rõ ràng về mục đích, nội dung và sản phẩm học tập mà học sinh phải hoàn thành. Các hoạt động học đó có thể được tổ chức cả ở trong và ngoài lớp học (ở trường, ở nhà và cộng đồng). Cần thiết kế bài học điện tử trên mạng để hướng dẫn, hỗ trợ hoạt động học của học sinh bên ngoài lớp học. 

Trên đây là một số bước thiết kế bài giảng STEM, hy vọng nó sẽ là nguồn tham khảo hữu ích cho thầy cô.

Billy Nguyễn – Cẩm nang dạy học


I. Mở đầu

Trong những năm gần đây, những nhà nghiên cứu giáo dục thường quan tâm đến giáo dục 4.0. Con người đã trải qua nhiều cuộc cách mạng về khoa học công nghệ lớn mà mỗi cuộc cách mạng đều có sự thay đổi lớn về bản chất và đột phá về công nghệ. Tính đến nay, con người đã trải qua 3 lần cách mạng công nghiệp và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang là xu thế.

Bên cạnh đó, tác giả B. Tjahjono [1] cho rằng, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 là một mô hình mới được kích hoạt bởi sự ra đời của IoTs (Internet of things) vào môi trường sản xuất công nghiệp. Cách mạng máy móc trong nhà máy thông minh này có thể trao đổi thông tin và kiểm soát lẫn nhau và có thể hoạt động độc lập thông qua trí tuệ nhân tạo.

Hòa theo xu thế đó, nền giáo dục cũng phải thay đổi để thích ứng với các cuộc cách mạng công nghiệp. Khởi đầu là giáo dục 1.0 người học muốn học phải đến lớp nghe thuyết giảng, tài liệu học tập chủ yếu là sách giáo khoa; công cụ của người học chủ yếu là giấy và bút và người dạy là sách giáo khoa, phấn và bảng. Tiếp đến, giáo dục 2.0 được đánh dấu bằng việc sử dụng máy tính và mạng Internet, việc giảng dạy có sự tương tác qua lại giữa người học và người dạy. Giáo dục 3.0 ra đời bởi sự hình thành các hệ thống quản lí học tập dựa trên nền tảng công nghệ đám mây nên giáo dục được xã hội hóa toàn cầu, không giới hạn đối tượng. Phương pháp dạy và học cũng có sự thay đổi lớn từ truyền thống qua phương pháp lớp học đảo ngược và hỗn hợp. Những năm gần đây, có nhiều nhà giáo dục trên thế giới nghiên cứu về các chủ đề liên quan đến giáo dục 4.0 (bảng 1).

Bảng 1. Một số nghiên cứu về giáo dục trong nền công nghiệp giáo dục 4.0


Theo đó, tác giả Daniela Janssen và cộng sự đã nghiên cứu ứng dụng công nghệ thực tế ảo trong giảng dạy, trọng tâm của nghiên cứu được đặt vào các tác động của đặc điểm người dùng, trải nghiệm của người dùng, kích hoạt nhiệm vụ đối với người học. Mục đích chính là đo lường trải nghiệm của người dùng trong các môi trường học thực tế ảo nhập vai và mối quan hệ của nó đến kết quả học tập. Bên cạnh đó, tác giả Anealka Aziz đã phân tích xu hướng học của người học trong thế kỉ XXI và các xu hướng trong giáo dục 4.0. Kết quả của bài phân tích đã chỉ ra rằng, giáo viên cần phải tích hợp nhiều công nghệ trong giảng dạy, tích hợp nhiều công nghệ người dạy sáng tạo hơn trong việc thiết kế bài giảng của mình.

Trên cơ sởnghiên cứu các công trình đã có, bài viết phân tích các công nghệ cần tích hợp trong giảng dạy; đề xuất các công nghệ số tương ứng cho từng mức độ nhận thức; tác động của công nghệ số đến người dạy và người học.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Các công nghệ số trong giáo dục hiện đại 

Ngày nay, khi công nghệ số phát triển cùng với Internet ngày càng phổ biến, số lượng người sử dụng điện thoại di động tăng trưởng một cách chóng mặt. Theo thống kê của nhóm nghiên cứu tại Trường Đại học Lạc Hồng, toàn trường có trên 95% người học sử dụng điện thoại thông minh. Từ số liệu thống kê đó cho thấy, việc ứng dụng các công nghệ số vào giảng dạy là khả thi.

Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều công cụ số ứng dụng trong giảng dạy, trong khuôn khổ bài nghiên cứu này, chúng tôi giới thiệu các công cụ số theo chức năng bao gồm: Hệ thống quản lí học tập, hệ thống hỗ trợ lớp học số.

- Hệ thống quản lí học tập: là hệ thống phần mềm có chức năng tổ chức, quản lí và triển khai lớp học trực tuyến qua mạng. Các cơ sở giáo dục ứng dụng hệ thống này để theo dõi, quản lí, triển khai hoạt động đào tạo của cơ sở. Bên cạnh đó, hệ thống theo dõi quá trình học tập của người học cũng như quá trình giảng dạy của người dạy. Người dạy triển khai các bài giảng bằng tài liệu, hình ảnh, phim hoặc các bài tập qua mạng. Người học tiếp cận các tài liệu và tương tác với người dạy và các bạn cùng lớp thông qua hệ thống này. Hiện nay có rất nhiều hệ thống quản lí học tập được phát triển mã nguồn mở như là Moodle, Schoology, Google classroom,… (bảng 2).

Bảng 2. Các hệ thống quản lí học tập miễn phí


Theo đó, hệ thống quản lí học tập Moodle được rất nhiều trường đại học trên thế giới sử dụng với những ưu điểm nổi trội như miễn phí, mã nguồn mở có thể tùy biến giao diện. 

- Công cụ hỗ trợ lớp học số: Lớp học số được xây dựng trong môi trường kĩ thuật số và điện toán đám mây. Người học tham gia vào lớp học số sẽ chia sẻ kinh nghiệm cũng như sự hiểu biết của mình về môn học thông qua các công cụ số. Bên cạnh đó, người học nhận được sự trợ giúp của người dạy cũng như các bạn cùng lớp một cách kịp thời. Hiện nay, có rất nhiều công cụ số được phát triển trên nền tảng Web và điện toán đám mây hỗ trợ lớp học số. Chức năng chính của các công cụ hỗ trợ cho lớp học số (xem bảng 3 trang bên):

Bảng 3. Các công cụ hỗ trợ lớp học số


Theo đó, trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi đề xuất các công cụ số được áp dụng cho từng mức độ nhận thức (xem hình 2 trang bên).

Hình 2. Các công cụ số đề xuất cho các mức độ nhận thức.

- Công cụ số đối với mức độ nhận thức thấp: Người học chỉ cần nhớ, hiểu và áp dụng. Nhớ là người học liệt kê được, định nghĩa được; hiểu là người học giải thích được các hiện tượng, các định lí; áp dụng là người học có thể áp dụng kiến thức để giải quyết bài toán cụ thể nào đó. Theo đó, công cụ Youtube được đề xuất để người dạy đưa các bài giảng bằng video, người học xem video để hiểu các vấn đề mà người dạy muốn truyền đạt. Trong quá trình triển khai, để đảm bảo người học xem video và đọc tài liệu, nhóm nghiên cứu đề xuất kết hợp hệ thống quản lí học tập Moodle để xây dựng các câu hỏi nhỏ; từ đó, có thể đánh giá khả năng hiểu cũng như áp dụng của người học. Ngoài ra, công cụ Kahoot và Socrative cũng được đề xuất để tạo các câu hỏi trực tuyến trong lớp học tạo hứng thú, tăng tính tương tác trong lớp học nhưng đạt được mục tiêu đánh giá nhanh những kiến thức đã triển khai trước đó.

-Công cụ sốđối với mức độ nhận thức cao:Mức độ nhận thức cao người học phải có khả năng phân tích, đánh giá và sáng tạo. Để đạt được mức độ nhận thức này, người học cần phải được tạo môi trường học tập chia sẻ, sáng tạo và hợp tác. Công cụ Padlet và Poll everywhere được đề xuất để tạo môi trường chia sẻ, người học sẽ tự tổng hợp kiến thức mới thông qua chia sẻ kiến thức trong môi trường số. Bên cạnh đó, công cụ quản lí học tập Moodle tạo ra môi trường thảo luận và chia sẻ các kết quả thảo luận, kết quả làm việc nhóm thông qua diễn đàn và các bài tập trực tuyến. Ngoài việc chia sẻ các kiến thức của người học, môi trường số này còn cung cấp các công cụ theo dõi sự tiến bộ của người học. Từ kết quả báo cáo sự tiến bộ của người học, người dạy lên kế hoạch để cải thiện và hỗ trợ người học đạt được mục tiêu đề ra.

2.2. Tác động của công nghệ số đến người dạy và người học

2.2.1. Người dạy

- Sự phát triển của công nghệ số đòi hỏi người dạy phải không ngừng nghiên cứu, cập nhật các công nghệ số và ứng dụng nó phù hợp với phương pháp giảng dạy.

- Xây dựng kế hoạch và phương pháp giảng dạy cho lớp học số.

- Quyết định các công cụ số tương ứng với chuẩn đầu ra của buổi học.

- Linh hoạt trong lựa chọn phương pháp tương tác giữa người dạy và người học.

- Người dạy phải chuyển từ mô hình giảng dạy người dạy là trung tâm (truyền thống) sang mô hình lấy người học làm trung tâm (phương pháp giảng dạy tích cực), lúc này vai trò của người dạy trở thành người định hướng và hỗ trợ học tập.

Từ những yêu cầu trên, người dạy khi triển khai lớp học số sẽ tự phát triển kĩ năng tự học, tự nâng cao kĩ năng công nghệ thông tin, thích ứng với sự thay đổi cách học của người học, thay đổi mô hình giảng dạy một cách linh hoạt từ truyền thống sang giảng dạy tích cực tăng tính tương tác. Bên cạnh đó, tầm nhìn về giáo dục cũng như khả năng tựlập kế hoạch, lãnh đạo trong việc định hình lớp học được hình thành.

2.2.2. Người học

Người học tham gia vào lớp học số sẽ có những tác động tích cực như phân tích sau:

- Việc người dạy thay đổi mô hình từ truyền thống sang mô hình giảng dạy tích cực đòi hỏi người học phải tích cực tham gia thảo luận, nỗ lực tương tác để cùng giải quyết vấn đề với các bạn cùng lớp. Người học dần hình thành khả năng tự học và tự nghiên cứu.

- Thường xuyên tham gia thảo luận, đưa ra ý kiến, tổng hợp kiến thức sẽ hình thành kĩ năng truyền đạt ý tưởng hiệu quả và tư duy phản biện.

- Thông qua công nghệ, người học tự tiếp cận kiến thức nền lên lớp tham gia thảo luận phân tích đánh giá tương tác với người dạy để tự tạo ra kiến thức mới.

Từ những thay đổi như đã nêu ở trên, việc tổ chức các lớp học số sẽ tăng kĩ năng tự học và giải quyết vấn đề cho người học.

2.3. Hiệu quả của công nghệ lớp học số

Tích hợp công nghệ trong lớp học (hay là lớp học số) sẽ tạo ra sự hứng khởi cho người học. Thông qua các trò chơi điện tử hay các câu hỏi tương tác, các diễn đàn sẽ thiết lập tương tác cao giữa người học và người dạy, người học và người học. Thông qua môi trường số, người học có thể chia sẻ các ý tưởng, hiểu biết, kinh nghiệm cho bạn cùng lớp và học hỏi lẫn nhau. Bên cạnh đó, công nghệ khuyến khích sự hợp tác của người học với các bạn cùng lớp bằng cách chia sẻ tài liệu và cùng phân tích vấn đề trên môi trường học tập ảo.

Ngoài ra, phương pháp này còn có tác động mạnh mẽ trong việc thúc đẩy người học có tốc độ tiếp thu thấp hơn tích cực tham gia hiệu quả vào lớp học. Trong các lớp học truyền thống, người học chỉ có thể tiếp thu bài học khi lên lớp và có sự hướng dẫn của người dạy, do đó kĩ năng tự học và tự nghiên cứu của người học không được phát huy. Việc áp dụng công nghệ số trong lớp học người học có thể tự học, tự nghiên cứu mọi lúc mọi nơi trên như trên xe bus, quán cà phê, thậm chí khi đi du lịch. Hơn nữa, tích hợp công nghệ số vào giảng dạy sẽ giảm thời gian thuyết giảng của giáo viên, người học không cần chú tâm nhiều vào việc ghi chép mà sử dụng thời gian trên lớp để thảo luận, phân tích tìm cách giải quyết các vấn đề mà người dạy đặt ra. Như vậy, với cách làm này, người dạy sẽ đạt được mục tiêu là kích hoạt sự sáng tạo của người học thay vì tìm cách để người học hiểu được nội dung của bài giảng.

3. Kết luận

Bài viết này trình bày một số công cụ quản lí lớp học và công nghệ hỗ trợlớp học số. Từnhững quan điểm thực tế, kết quả của bài nghiên cứu này cho thấy việc tích hợp công nghệ trong giảng dạy có những hiệu quả tích cực như sau: 

(1) Học tập linh hoạt không phụ thuộc vào không gian và thời gian;

(2) Thúc đẩy sự tích cực tham gia vào lớp học của người học;

(3) Học hỏi lẫn nhau thông qua chia sẻ sự hiểu biết, kinh nghiệm thông qua diễn đàn trong hệ thống quản lí học tập; 

(4) Kích hoạt sự sáng tạo của người học thông qua thảo luận, phân tích để giải quyết vấn đề; 

(5) Người dạy sẽ tự động thay đổi mô hình từgiáo viên là trung tâm sang mô hình người học là trung tâm; 

(6) Người dạy chuyển vai trò trởthành người hỗtrợ học tập và thiết kế định hướng học tập.


Lê Phương Trường - Lâm Thành Hiển Trường Đại học Lạc Hồng

Nguồn: Tạp chí Giáo dục.

Mục tiêu của kiểm tra đánh giá phải hướng tới việc xác định sự tiến bộ của người học. Đành giá năng lục người học chính là đánh giá khả năng người học áp dụng những kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết các văn để trong cuộc sống thực tiền. Đánh giá năng luc người học còn gọi là đánh giá thực hiện.

Đánh giá năng lực không hoàn toàn phải dựa vào chương trinh giáo dục môn học như đánh giá kiến thức, kĩ năng. Trong đó, năng lực là sự tổng hoà, kết tinh của kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm, giả trị, chuẩn mực đạo đức, được hình thành từ nhiệu lĩnh vực học tập và từ sự phát triển tự nhiên về mặt xã hội của một con người.

Thang đo đánh giá năng lực được quy chuẩn theo các mức độ phát triển năng lực của học sinh, chứ không quy chuẩn theo việc học sinh đó có đạt hay không đạt một nội dung đã được học, do vậy:

+ Đánh giá năng lực tập trung vào mục tiêu đành giá sự tiến bộ của người học so với chính họ hơn là mục tiêu đành giá xếp hạng giữa các người học với nhau.

+ Học sinh cùng một lửa tuổi, học cùng một chương trình giáo dục nhưng có thể đạt các mức độ năng lực rất khác nhau. Một bộ phận đạt mức độ năng lực thấp, bộ phận khác đạt năng lực phù hợp và số còn lai đạt mức cao so với lứa tuổi. Điều này đánh giá theo kiến thức, kĩ năng đơn lẻ không giải quyết được,

Để đánh giá quá trình, các nhiệm vụ học tập thể hiện các hành vi của các năng lực ứng với các mức độ khác nhau sẽ được giao cho học sinh. Một cách lý tưởng, nhiệm vụ đó sẽ được phân hóa phù hợp với vùng phát triển gần của tùng học sinh, Mặc dù vậy, để thực thi việc đó trong điều kiện lớp học đông là hết sức khó khăn. Một cách thực tế hơn là giáo viên sẽ chọn mức độ nhiệm vụ phù hợp với da số trình độ của học sinh. Sau đó có thể cung cấp thêm những nhiệm vụ nâng cao với nhóm học sinh giỏi và tăng cường trợ giúp với nhóm học sinh yếu. Chính vì vày để đành giá quá trình, việc đầu tiên cần làm là giáo viên cần xây dựng được hệ thống nhiêm vụ có mức độ yêu cầu khác nhau.


Để phân mức độ nhiệm vụ STEM, có thể sử dụng các cách như sau:

Cách 1: Phần mức theo độ mở của nhiệm vụ. Độ mở được đặc trưng bởi sự trả lời tự do của cá nhân và không có một lời giải cố định. Cho phép các cách tiếp cận khác nhau và dành không gian cho sự sáng tạo, tự quyết định của người học. Mức độ cao- thấp phụ thuộc vào tính mở của câu hỏi. Câu hỏi càng có nhiều lời giải và cách tiếp cận thì độ mở càng cao. Trong việc đánh giá, chú trọng việc học sinh biết lập luận thích hợp cho con đường giải quyết hay quan điểm của mình.

Cách 2: Phân mức theo độ phức tap của nhiệm vụ. Độ phúc tạp thể hiện trong tính thực tiễn của nhiệm vụ. Cho phép học sinh vẫn dung các kiến thức. kĩ năng đã học vào giải quyết vấn để thực tiễn của cuộc sống. Nhiệm vụ càng sát với tình huống thực, bối cảnh thực thì mức độ phức tạp càng cao. Trong việc đánh giá, chú trọng sư phân tich, tổng hợp, đánh giá, vận dụng kiến thức trong quá trình giải quyết vấn để của học sinh.

Cách 3: Phân mức theo số lượng thao tác phải thực hiện trong nhiệm vụ. Thao tác bao gồm thao tác tự duy (diễn ra bên trong học sinh) và thao tác hành động (đo đạc, tính toán, lắp đặt,). Để hoàn thành một nhiệm vụ học sinh cần thực hiện một hoặc nhiều thao tác. Năng lực của học sinh thể hiện qua các thao tác mà họ thực hiện. Một nhiệm vụ phải trải qua càng nhiều thao tác để thực hiện thì yêu cầu năng lực của học sinh càng cao.

Cách 4: Phân mức theo mức độ tự lực của học sinh. Tự lực là có khả năng thực hiện nhiệm vụ mà không cần đến sự trợ giúp, gợi ý. Nếu nhiệm vụ yêu cầu học sinh tự lực thực hiện càng nhiều thao tác thì nhiệm vụ đó có mức độ tự lực càng cao. Trong đánh giá mức độ tư lực, chú trọng đến sự chủ động, tích cực của học sinh khi thực hiện nhiệm vụ,

Khi có các nhiêm vụ với các mức độ tương ứng với các mức độ của hành vi khác nhau của năng lực thì ta có thể sử dụng các bước sau để đánh giá mức độ đạt được năng lực của học sinh trong quá trình day:

+ Giao nhiệm vụ ở mức độ cao hơn.

+ Học sinh tư lực làm việc, giáo viên đánh giá ghi nhận các học sinh thực hiện được nhiệm vụ.

+ Gơi ý để hạ xuống mức độ yêu cầu thấp hơn

+ Học sinh thực hiện theo gợi ý, giáo viên đánh giá học sinh đạt được mức năng lực thấp hơn. Các bước xây dựng các nhiệm vụ học tập theo ba mức độ khác nhau như sau:

+ Làm rõ mục tiêu cần đánh giả (hành vi).

+ Mô tả trông đợi đối với học sinh ở mức cao nhất – Đây chính là đáp án của nhiệm vụ mức 3.

+ Phát biểu nhiệm vụ cần thực hiện của học sinh ở mức 3,

+ Xác định khó khăn chính của học sinh khi thực hiện nhiệm vụ ở mức 3.

+ Mô tả cách hỗ trợ của giáo viên để học sinh vượt qua khó khăn.

+ Phát biểu nhiệm vụ học tập ở mức 2 (dựa vào nhiệm vụ mức 3 và hỗ trợ của giáo viên)

+ Mô tả yêu của trông đợi đối với học sinh ở mức 2 – Đáp án nhiệm vụ mức 2

+ Xác định khó khăn chính khi thực hiện nhiệm vụ mức 2

+ Mô tả cách hỗ trợ của giáo viên để vượt qua khó khăn,

+ Phát biểu nhiệm vụ mức 1.

+ Mô tả đáp án mức 1.

Một công cụ phổ biến được sử dụng trong đánh giá năng lực học sinh là bảng đánh giá theo tiêu chí (Rubric). ĐỐi với các hoạt động học tập STEM, bảng đánh giá theo tiêu chí được sử dụng trong nhiều giai đoạn, phổ biến nhất là trong đánh giá quá trình hoạt động, đánh giá sản phẩm và đánh giá trình bay, thuyết trình sản phẩm.

Một hạn chế hay gặp phải của việc xây dựng các bảng đánh gia theo tiêu chí đó là giáo viên không bám sát vào các biểu hiện hành vi của các năng lực cần đánh giá để mô tả trong bảng.

Với Rubric tiêu chí này có thể cho điểm về sản phẩm của học sinh chế tạo được tuy nhiên lại không cung cấp thông tin để đánh giá trực tiếp năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn ở đây.

Để đánh giá được mức độ biểu hiện của năng lực giải quyết vấn đề của học sinh, dựa vào cấu trúc năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo ta có thể xây dựng được bảng Rubric như sau:


Billy Nguyễn: Tham khảo “Giáo dục STEM trong trường phổ Thông”

Các chuyên gia đã phân loại chính xác 2 hướng nội dung chính của kiến thức Tin học trong trường học. Việc phân loại này sẽ giúp các nhà quản lý và chuyên gia GD hiểu rõ hơn và định hướng được tương lai của môn học này.


Chúng ta vừa tìm hiểu nhóm thứ nhất, DL - kỹ năng số hóa phổ thông. 2 nhóm còn lại (CS, IT) thì khó phân biệt hơn vì chúng đều là những kiến thức thực sự của môn Tin học, được dạy trên khắp tất cả các quốc gia. Để hiểu rõ hơn 2 định hướng này chúng ta bắt đầu bằng việc so sánh giữa chúng.

So sánh bản chất nội dung kiến thức giữa IT và CS

Bảng sau so sánh phần kiến thức, nội dung dự kiến của 2 hướng CS và IT. Mục đích của các bảng này để chúng ta cảm nhận được sự khác nhau rõ rệt về bản chất giữa 2 hướng nội dung này mà từ xưa đến nay ít người để ý đến.


Bảng trên cho chúng ta thấy sự khác biệt rất cơ bản giữa 2 hướng nội dung IT và CS. Trong CT môn Tin học cũ (hiện nay) hầu như tất cả các chủ đề kiến thức và định hướng chính đều là IT. Chính điều này làm cho toàn xã hội nói chung và các GV, HS trong nhà trường phổ thông hiểu không chính xác về môn Tin học. Trong CT môn Tin học mới, định hướng CS đã được đưa vào và là một trọng tâm chính của chương trình. Điều này sẽ làm cho bức tranh của môn Tin học thay đổi hoàn toàn.

So sánh định hướng kiến thức giảng dạy, mục đích, đối tượng tổng quát giữa IT và CS

Cả 2 hướng CS, IT đều mang ý nghĩa kiến thức cơ bản trong mô hình môn Tin học của tương lai. Nhưng giữa chúng có sự khác biệt đáng kể, thậm chí ngược nhau, bù trừ cho nhau. Bảng sau phác thảo sự khác nhau cơ bản đó giữa 2 hướng nội dung CS và IT. Có thể tóm tắt: IT định hướng ứng dụng, nghề nghiệp; CS định hướng chuyên nghiệp, hàn lâm.

Như vậy chúng ta thấy sự khác biệt rất cơ bản cả về kiến thức, mục tiêu, định hướng sư phạm của 2 nhánh CS và IT này. Điểm này các GV cần nắm vững khi tiếp cận tìm hiểu và giảng dạy môn Tin học theo CT mới.


Bảng trên cho chúng ta một cách nhìn mới rất quan trọng về định hướng của môn Tin học, gần như khác hoàn toàn so với cách nhìn cũ. Đây chính là điểm mấu chốt, quan trọng nhất mà mỗi GV cần hiểu, tiếp thu và áp dụng sáng tạo trong việc giảng dạy của mình.

Bùi Việt Hà

MKRdezign

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget