I. Mở đầu
Trong những năm gần đây, những nhà nghiên cứu giáo dục thường quan tâm đến giáo dục 4.0. Con người đã trải qua nhiều cuộc cách mạng về khoa học công nghệ lớn mà mỗi cuộc cách mạng đều có sự thay đổi lớn về bản chất và đột phá về công nghệ. Tính đến nay, con người đã trải qua 3 lần cách mạng công nghiệp và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang là xu thế.
Bên cạnh đó, tác giả B. Tjahjono [1] cho rằng, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 là một mô hình mới được kích hoạt bởi sự ra đời của IoTs (Internet of things) vào môi trường sản xuất công nghiệp. Cách mạng máy móc trong nhà máy thông minh này có thể trao đổi thông tin và kiểm soát lẫn nhau và có thể hoạt động độc lập thông qua trí tuệ nhân tạo.
Hòa theo xu thế đó, nền giáo dục cũng phải thay đổi để thích ứng với các cuộc cách mạng công nghiệp. Khởi đầu là giáo dục 1.0 người học muốn học phải đến lớp nghe thuyết giảng, tài liệu học tập chủ yếu là sách giáo khoa; công cụ của người học chủ yếu là giấy và bút và người dạy là sách giáo khoa, phấn và bảng. Tiếp đến, giáo dục 2.0 được đánh dấu bằng việc sử dụng máy tính và mạng Internet, việc giảng dạy có sự tương tác qua lại giữa người học và người dạy. Giáo dục 3.0 ra đời bởi sự hình thành các hệ thống quản lí học tập dựa trên nền tảng công nghệ đám mây nên giáo dục được xã hội hóa toàn cầu, không giới hạn đối tượng. Phương pháp dạy và học cũng có sự thay đổi lớn từ truyền thống qua phương pháp lớp học đảo ngược và hỗn hợp. Những năm gần đây, có nhiều nhà giáo dục trên thế giới nghiên cứu về các chủ đề liên quan đến giáo dục 4.0 (bảng 1).
Bảng 1. Một số nghiên cứu về giáo dục trong nền công nghiệp giáo dục 4.0
Theo đó, tác giả Daniela Janssen và cộng sự đã nghiên cứu ứng dụng công nghệ thực tế ảo trong giảng dạy, trọng tâm của nghiên cứu được đặt vào các tác động của đặc điểm người dùng, trải nghiệm của người dùng, kích hoạt nhiệm vụ đối với người học. Mục đích chính là đo lường trải nghiệm của người dùng trong các môi trường học thực tế ảo nhập vai và mối quan hệ của nó đến kết quả học tập. Bên cạnh đó, tác giả Anealka Aziz đã phân tích xu hướng học của người học trong thế kỉ XXI và các xu hướng trong giáo dục 4.0. Kết quả của bài phân tích đã chỉ ra rằng, giáo viên cần phải tích hợp nhiều công nghệ trong giảng dạy, tích hợp nhiều công nghệ người dạy sáng tạo hơn trong việc thiết kế bài giảng của mình.
Trên cơ sởnghiên cứu các công trình đã có, bài viết phân tích các công nghệ cần tích hợp trong giảng dạy; đề xuất các công nghệ số tương ứng cho từng mức độ nhận thức; tác động của công nghệ số đến người dạy và người học.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Các công nghệ số trong giáo dục hiện đại
Ngày nay, khi công nghệ số phát triển cùng với Internet ngày càng phổ biến, số lượng người sử dụng điện thoại di động tăng trưởng một cách chóng mặt. Theo thống kê của nhóm nghiên cứu tại Trường Đại học Lạc Hồng, toàn trường có trên 95% người học sử dụng điện thoại thông minh. Từ số liệu thống kê đó cho thấy, việc ứng dụng các công nghệ số vào giảng dạy là khả thi.
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều công cụ số ứng dụng trong giảng dạy, trong khuôn khổ bài nghiên cứu này, chúng tôi giới thiệu các công cụ số theo chức năng bao gồm: Hệ thống quản lí học tập, hệ thống hỗ trợ lớp học số.
- Hệ thống quản lí học tập: là hệ thống phần mềm có chức năng tổ chức, quản lí và triển khai lớp học trực tuyến qua mạng. Các cơ sở giáo dục ứng dụng hệ thống này để theo dõi, quản lí, triển khai hoạt động đào tạo của cơ sở. Bên cạnh đó, hệ thống theo dõi quá trình học tập của người học cũng như quá trình giảng dạy của người dạy. Người dạy triển khai các bài giảng bằng tài liệu, hình ảnh, phim hoặc các bài tập qua mạng. Người học tiếp cận các tài liệu và tương tác với người dạy và các bạn cùng lớp thông qua hệ thống này. Hiện nay có rất nhiều hệ thống quản lí học tập được phát triển mã nguồn mở như là Moodle, Schoology, Google classroom,… (bảng 2).
Bảng 2. Các hệ thống quản lí học tập miễn phí
Theo đó, hệ thống quản lí học tập Moodle được rất nhiều trường đại học trên thế giới sử dụng với những ưu điểm nổi trội như miễn phí, mã nguồn mở có thể tùy biến giao diện.
- Công cụ hỗ trợ lớp học số: Lớp học số được xây dựng trong môi trường kĩ thuật số và điện toán đám mây. Người học tham gia vào lớp học số sẽ chia sẻ kinh nghiệm cũng như sự hiểu biết của mình về môn học thông qua các công cụ số. Bên cạnh đó, người học nhận được sự trợ giúp của người dạy cũng như các bạn cùng lớp một cách kịp thời. Hiện nay, có rất nhiều công cụ số được phát triển trên nền tảng Web và điện toán đám mây hỗ trợ lớp học số. Chức năng chính của các công cụ hỗ trợ cho lớp học số (xem bảng 3 trang bên):
Bảng 3. Các công cụ hỗ trợ lớp học số
Theo đó, trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi đề xuất các công cụ số được áp dụng cho từng mức độ nhận thức (xem hình 2 trang bên).
![]() |
| Hình 2. Các công cụ số đề xuất cho các mức độ nhận thức. |
- Công cụ số đối với mức độ nhận thức thấp: Người học chỉ cần nhớ, hiểu và áp dụng. Nhớ là người học liệt kê được, định nghĩa được; hiểu là người học giải thích được các hiện tượng, các định lí; áp dụng là người học có thể áp dụng kiến thức để giải quyết bài toán cụ thể nào đó. Theo đó, công cụ Youtube được đề xuất để người dạy đưa các bài giảng bằng video, người học xem video để hiểu các vấn đề mà người dạy muốn truyền đạt. Trong quá trình triển khai, để đảm bảo người học xem video và đọc tài liệu, nhóm nghiên cứu đề xuất kết hợp hệ thống quản lí học tập Moodle để xây dựng các câu hỏi nhỏ; từ đó, có thể đánh giá khả năng hiểu cũng như áp dụng của người học. Ngoài ra, công cụ Kahoot và Socrative cũng được đề xuất để tạo các câu hỏi trực tuyến trong lớp học tạo hứng thú, tăng tính tương tác trong lớp học nhưng đạt được mục tiêu đánh giá nhanh những kiến thức đã triển khai trước đó.
-Công cụ sốđối với mức độ nhận thức cao:Mức độ nhận thức cao người học phải có khả năng phân tích, đánh giá và sáng tạo. Để đạt được mức độ nhận thức này, người học cần phải được tạo môi trường học tập chia sẻ, sáng tạo và hợp tác. Công cụ Padlet và Poll everywhere được đề xuất để tạo môi trường chia sẻ, người học sẽ tự tổng hợp kiến thức mới thông qua chia sẻ kiến thức trong môi trường số. Bên cạnh đó, công cụ quản lí học tập Moodle tạo ra môi trường thảo luận và chia sẻ các kết quả thảo luận, kết quả làm việc nhóm thông qua diễn đàn và các bài tập trực tuyến. Ngoài việc chia sẻ các kiến thức của người học, môi trường số này còn cung cấp các công cụ theo dõi sự tiến bộ của người học. Từ kết quả báo cáo sự tiến bộ của người học, người dạy lên kế hoạch để cải thiện và hỗ trợ người học đạt được mục tiêu đề ra.
2.2. Tác động của công nghệ số đến người dạy và người học
2.2.1. Người dạy
- Sự phát triển của công nghệ số đòi hỏi người dạy phải không ngừng nghiên cứu, cập nhật các công nghệ số và ứng dụng nó phù hợp với phương pháp giảng dạy.
- Xây dựng kế hoạch và phương pháp giảng dạy cho lớp học số.
- Quyết định các công cụ số tương ứng với chuẩn đầu ra của buổi học.
- Linh hoạt trong lựa chọn phương pháp tương tác giữa người dạy và người học.
- Người dạy phải chuyển từ mô hình giảng dạy người dạy là trung tâm (truyền thống) sang mô hình lấy người học làm trung tâm (phương pháp giảng dạy tích cực), lúc này vai trò của người dạy trở thành người định hướng và hỗ trợ học tập.
Từ những yêu cầu trên, người dạy khi triển khai lớp học số sẽ tự phát triển kĩ năng tự học, tự nâng cao kĩ năng công nghệ thông tin, thích ứng với sự thay đổi cách học của người học, thay đổi mô hình giảng dạy một cách linh hoạt từ truyền thống sang giảng dạy tích cực tăng tính tương tác. Bên cạnh đó, tầm nhìn về giáo dục cũng như khả năng tựlập kế hoạch, lãnh đạo trong việc định hình lớp học được hình thành.
2.2.2. Người học
Người học tham gia vào lớp học số sẽ có những tác động tích cực như phân tích sau:
- Việc người dạy thay đổi mô hình từ truyền thống sang mô hình giảng dạy tích cực đòi hỏi người học phải tích cực tham gia thảo luận, nỗ lực tương tác để cùng giải quyết vấn đề với các bạn cùng lớp. Người học dần hình thành khả năng tự học và tự nghiên cứu.
- Thường xuyên tham gia thảo luận, đưa ra ý kiến, tổng hợp kiến thức sẽ hình thành kĩ năng truyền đạt ý tưởng hiệu quả và tư duy phản biện.
- Thông qua công nghệ, người học tự tiếp cận kiến thức nền lên lớp tham gia thảo luận phân tích đánh giá tương tác với người dạy để tự tạo ra kiến thức mới.
Từ những thay đổi như đã nêu ở trên, việc tổ chức các lớp học số sẽ tăng kĩ năng tự học và giải quyết vấn đề cho người học.
2.3. Hiệu quả của công nghệ lớp học số
Tích hợp công nghệ trong lớp học (hay là lớp học số) sẽ tạo ra sự hứng khởi cho người học. Thông qua các trò chơi điện tử hay các câu hỏi tương tác, các diễn đàn sẽ thiết lập tương tác cao giữa người học và người dạy, người học và người học. Thông qua môi trường số, người học có thể chia sẻ các ý tưởng, hiểu biết, kinh nghiệm cho bạn cùng lớp và học hỏi lẫn nhau. Bên cạnh đó, công nghệ khuyến khích sự hợp tác của người học với các bạn cùng lớp bằng cách chia sẻ tài liệu và cùng phân tích vấn đề trên môi trường học tập ảo.
Ngoài ra, phương pháp này còn có tác động mạnh mẽ trong việc thúc đẩy người học có tốc độ tiếp thu thấp hơn tích cực tham gia hiệu quả vào lớp học. Trong các lớp học truyền thống, người học chỉ có thể tiếp thu bài học khi lên lớp và có sự hướng dẫn của người dạy, do đó kĩ năng tự học và tự nghiên cứu của người học không được phát huy. Việc áp dụng công nghệ số trong lớp học người học có thể tự học, tự nghiên cứu mọi lúc mọi nơi trên như trên xe bus, quán cà phê, thậm chí khi đi du lịch. Hơn nữa, tích hợp công nghệ số vào giảng dạy sẽ giảm thời gian thuyết giảng của giáo viên, người học không cần chú tâm nhiều vào việc ghi chép mà sử dụng thời gian trên lớp để thảo luận, phân tích tìm cách giải quyết các vấn đề mà người dạy đặt ra. Như vậy, với cách làm này, người dạy sẽ đạt được mục tiêu là kích hoạt sự sáng tạo của người học thay vì tìm cách để người học hiểu được nội dung của bài giảng.
3. Kết luận
Bài viết này trình bày một số công cụ quản lí lớp học và công nghệ hỗ trợlớp học số. Từnhững quan điểm thực tế, kết quả của bài nghiên cứu này cho thấy việc tích hợp công nghệ trong giảng dạy có những hiệu quả tích cực như sau:
(1) Học tập linh hoạt không phụ thuộc vào không gian và thời gian;
(2) Thúc đẩy sự tích cực tham gia vào lớp học của người học;
(3) Học hỏi lẫn nhau thông qua chia sẻ sự hiểu biết, kinh nghiệm thông qua diễn đàn trong hệ thống quản lí học tập;
(4) Kích hoạt sự sáng tạo của người học thông qua thảo luận, phân tích để giải quyết vấn đề;
(5) Người dạy sẽ tự động thay đổi mô hình từgiáo viên là trung tâm sang mô hình người học là trung tâm;
(6) Người dạy chuyển vai trò trởthành người hỗtrợ học tập và thiết kế định hướng học tập.
Lê Phương Trường - Lâm Thành Hiển Trường Đại học Lạc Hồng
Nguồn: Tạp chí Giáo dục.





Đăng nhận xét
Lưu ý: Chỉ thành viên của blog này mới được đăng nhận xét.